Search This Blog

Showing posts with label du lịch & ẩm thực. Show all posts
Showing posts with label du lịch & ẩm thực. Show all posts

Wednesday, October 7, 2026

Những toa tàu triệu USD và sự trở lại của du lịch đường sắt xa xỉ

Tàu Missouri River Runner của Amtrak khởi hành từ St. Louis với ba toa xe tư nhân được nối ở phía đuôi. Những toa xe này thường được gọi là "private varnish".

Trước khi giới chính trị, ngôi sao và các ông trùm kinh doanh di chuyển bằng phi cơ riêng, toa tàu riêng từng là biểu tượng tối thượng của sự giàu có. Tại Mỹ, thị trường ấy gần như biến mất sau Thế chiến II, nhưng chưa hoàn toàn chết. Nhóm nhỏ chủ sở hữu vẫn bỏ hàng triệu USD để duy trì những toa tàu cổ, trong khi các doanh nghiệp mới tìm cách biến trải nghiệm đường sắt xa xỉ thành dịch vụ cho thuê. Đây là thị trường bé đến mức gần như vô hình trong doanh thu của Amtrak, nhưng lại cho thấy cách sự khan hiếm, hoài niệm và trải nghiệm có thể biến một công nghệ cũ thành hàng xa xỉ.

Khi toa tàu từng là “phi cơ riêng” của giới giàu

Trước thời đại hàng không tư nhân, những người quyền lực nhất nước Mỹ thường đi bằng toa tàu riêng.

Tổng thống Franklin D. Roosevelt có một toa được cải tạo đặc biệt trong Thế chiến II. Giáo hội Công giáo thậm chí cũng sở hữu toa riêng cho một hồng y tại Mỹ.

Thế kỷ 20, khi ô tô và hàng không thay đổi cách người Mỹ di chuyển, toa tàu riêng dần nhường chỗ cho máy bay cá nhân.

Ngày nay, loại hình này tồn tại chủ yếu nhờ chương trình toa tàu tư nhân của Amtrak. Chủ sở hữu trả phí để nối toa của mình vào các đoàn tàu chở khách thông thường.

Trong năm tài chính 2025, các toa tàu tư nhân đi tổng cộng khoảng 690.000 km, trên mạng lưới Amtrak và mang về khoảng 2,5 triệu USD, trong tổng doanh thu 3,9 tỷ USD của hãng đường sắt quốc gia Mỹ. Về tài chính, đây gần như chỉ là dấu chấm nhỏ. Với người sở hữu, đây lại là cách giữ lại một phần lịch sử đang biến mất.

Một toa tàu có thể trị giá 1 triệu USD

Patrick Henry, 74 tuổi, là một trong những người như vậy. Năm 2004, ông mua hai toa tàu với tổng giá 900.000 USD, đặt tên Warren R. Henry và Evelyn Henry theo tên cha mẹ. Sau đó ông bổ sung một toa Pullman sản xuất năm 1954 mang tên Santa Fe, theo tên hãng đường sắt nơi cha ông từng làm việc 41 năm.

Một toa tư nhân đủ tiêu chuẩn để lập tức chạy trên mạng Amtrak hiện thường có giá khoảng 1 triệu USD.

Nhưng giá mua mới chỉ là điểm khởi đầu. Riêng toa Warren R. Henry có mái vòm ngắm cảnh tiêu tốn khoảng 60.000 USD/năm để bảo dưỡng. Hai toa giường nằm còn lại tốn khoảng 40.000 USD/toa/năm. Đổi lại, hành khách có được trải nghiệm gần như không còn tồn tại trong giao thông đại chúng.

Các toa của Henry có phòng khách, phòng ăn, ghế da, cửa sổ lớn, phòng ngủ riêng và kết nối internet vệ tinh Starlink. Hai toa giường nằm có tổng cộng 12 phòng ngủ; một số phòng có nhà vệ sinh và phòng tắm riêng. Đây không phải cách nhanh nhất để đi từ nơi này sang nơi khác. Chính sự chậm rãi mới là sản phẩm.

Khi hành trình quan trọng hơn điểm đến

Năm 2020, Leonard Cherry, một doanh nhân Houston đã bán công ty cung ứng vật liệu và phá dỡ từng thuê tàu của Henry ba lần. Một chuyến kéo dài một tuần thường có giá khoảng 10.000 USD/người. Cherry ví trải nghiệm này với du thuyền.

Khách ngồi trong toa mái vòm, chơi bài, trò chuyện, ăn tối, nghe nhạc và ngắm cảnh thay vì tìm cách tới nơi càng nhanh càng tốt. Trong loại hình xa xỉ này, thời gian không phải chi phí cần cắt giảm mà trở thành một phần của giá trị.

Đây cũng là điều phân biệt toa tàu tư nhân với phi cơ riêng. Phi cơ riêng bán tốc độ, sự thuận tiện và quyền kiểm soát lịch trình. Tàu riêng bán không gian, nhịp điệu và trải nghiệm trên đường đi.

Thị trường đang cố bước ra khỏi giấy tờ

Những người muốn thuê toa tàu có thể liên hệ trực tiếp với chủ sở hữu hoặc thông qua Halloway, công ty được thành lập năm 2025 với tham vọng trở thành một kiểu “Airbnb của tàu tư nhân”.

Người sáng lập Mike Avena ban đầu muốn xây dựng dịch vụ tàu đêm tại Bắc Mỹ. Trong quá trình tìm toa tàu, ông phát hiện một ngành có tài sản giá trị nhưng cách kinh doanh vẫn rất thủ công.

Theo Avena, nhiều chủ toa vẫn vận hành “doanh nghiệp dựa trên giấy tờ” và gặp khó khăn trong việc tiếp cận thế hệ khách hàng trẻ hơn. Halloway hiện cho thuê một số toa tư nhân, đồng thời vận hành Napa Valley Wine Train và tuyến Head of the Lakes dọc hồ Superior.

Mô hình này cố giải quyết một bất cân xứng quen thuộc ở những thị trường ngách: tài sản đắt đỏ tồn tại nhưng khả năng tiếp cận khách hàng rất thấp. Số hóa đặt chỗ và tiếp thị có thể mở rộng nhu cầu mà không cần tăng số lượng toa.

2.750 USD/ngày chỉ để có toa tàu

Bill Gray, chủ tịch Hiệp hội Chủ toa tàu tư nhân Mỹ, sở hữu Blue Ridge Club và cho thuê thông qua Halloway.

Giá thuê toa khoảng 2.750 USD/ngày, chưa bao gồm phí Amtrak, thực phẩm và nhân viên phục vụ.

Gray chi khoảng 50.000 USD/năm để bảo dưỡng toa. Blue Ridge Club có sáu chỗ ngủ, phòng ăn chứa được 20 người và phòng khách dành cho tám người.

Một hành khách đã trả 5.500 USD cho chuyến đi tám ngày ngắm lá mùa thu qua New York và Vermont. Giá trị nằm ở khả năng tiếp cận những khung cảnh và thị trấn nhỏ mà hành trình hàng không không thể cung cấp. Đây là kinh tế học quen thuộc của du lịch trải nghiệm: khách không chỉ trả tiền cho phương tiện vận chuyển mà cho quyền tiếp cận hành trình khác biệt.

Hạ tầng chống lại thị trường

Nghịch lý là thị trường tàu tư nhân tồn tại nhờ Amtrak nhưng đồng thời ngày càng khó sống trên mạng lưới của chính Amtrak.

Hãng đường sắt quốc gia Mỹ ưu tiên tốc độ và đúng giờ. Những toa tư nhân cũ thường không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của các đoàn tàu nhanh hơn.

Blue Ridge Club chỉ có thể chạy tối đa khoảng 177 km/h, do thiếu hệ thống phanh kép cần thiết cho thử nghiệm ở tốc độ cao hơn. Trong khi đó, tàu Amtrak ở vùng Đông Bắc thường chạy nhanh hơn mức này. Chi phí cũng tăng mạnh.

Từ ngày 1/10, chủ toa đạt chuẩn phải trả 3,05 USD/km để nối toa đầu tiên vào tàu Amtrak, và 2,35 USD/km cho mỗi toa bổ sung. Năm 2017, mức phí tương ứng chỉ khoảng 1,80 USD/km và 1,38 USD/km.

Không khó hiểu khi số toa đạt chuẩn Amtrak thuộc hiệp hội chủ toa tư nhân giảm từ 125 chiếc thập kỷ trước xuống còn khoảng 38 chiếc hiện nay.

Khi chi phí vận hành ăn mòn niềm đam mê

Một số chủ sở hữu đã bỏ cuộc. Năm 2006, Borden McGahee và chồng mua toa Dearing với giá 140.000 USD. Đến năm 2019, họ ngừng đưa toa đi xuyên nước Mỹ vì chi phí và hậu cần Amtrak ngày càng phức tạp.

Riêng phí đỗ toa tại Savannah đã lên tới 2.000 USD/tháng. Cuối cùng, toa tàu được chuyển sang phục vụ tuyến du lịch tại Georgia.

Amtrak cũng có lý do của mình. Việc nối toa tư nhân có thể mất tới một giờ. Trong phần lớn thời gian đó, hệ thống điều hòa, nhà vệ sinh, đèn, dịch vụ ăn uống và ổ cắm điện trên phần còn lại của đoàn tàu phải tạm ngừng. Hãng đã cắt sáu thành phố khỏi danh sách điểm có thể nối toa tư nhân, dù bổ sung thêm hai điểm mới tại California.

Với Amtrak, đây là bài toán hiệu quả vận hành. Với chủ toa, đây là rào cản cho thú chơi vốn đã đắt đỏ.

Hàng xa xỉ không nhất thiết phải mới

Điều khiến toa tàu tư nhân đáng chú ý không nằm ở quy mô thị trường. Ngược lại, giá trị của nó chính là việc không thể mở rộng dễ dàng.

Những toa cổ cần bảo dưỡng chuyên biệt. Số lượng đạt tiêu chuẩn ngày càng ít. Việc nối toa vào mạng lưới đường sắt phức tạp và đắt đỏ. Hành trình chậm hơn nhiều so với hàng không.

Theo logic của vận tải đại chúng, đây đều là bất lợi. Theo logic của hàng xa xỉ, chúng lại góp phần tạo ra sự khan hiếm.

Khi phi cơ riêng ngày càng trở thành biểu tượng quen thuộc của giới giàu, một toa Pullman từ giữa thế kỷ 20 mang lại thứ khác: lịch sử, không gian và cảm giác sở hữu một phần của thời đại đã qua.

Điều này lý giải vì sao một ngành tạo ra chỉ vài triệu USD doanh thu mỗi năm vẫn có thể duy trì những tài sản trị giá hàng triệu USD. Nó không cạnh tranh với hàng không về tốc độ mà cạnh tranh bằng ký ức và trải nghiệm.

Thị trường càng nhỏ càng có giá trị

Tương lai của đường sắt tư nhân Mỹ vẫn mong manh. Chi phí Amtrak tăng, số toa đạt chuẩn giảm và yêu cầu kỹ thuật ngày càng nghiêm ngặt. Để tồn tại, thị trường phải tìm được nhiều khách hàng mới đủ giàu và đủ hứng thú để trả hàng nghìn USD cho hành trình chậm hơn máy bay rất nhiều.

Những nền tảng như Halloway đang cố biến thú chơi của giới sưu tập thành dịch vụ xa xỉ dễ tiếp cận hơn. Nhưng có lẽ sức hấp dẫn lớn nhất của thị trường này lại nằm chính ở giới hạn của nó.

Trong thời đại mọi thứ đều được tối ưu cho tốc độ và quy mô, tàu tư nhân đi theo hướng ngược lại: ít hành khách, nhiều không gian, hành trình dài và chi phí cao. Đây là thứ khó trở thành thị trường đại chúng. Với hàng xa xỉ, đôi khi không thể trở thành đại chúng chính là lợi thế lớn nhất.

shared via nytimes,

Monday, September 7, 2026

Route 66 và giấc mơ Mỹ của du khách châu Âu

Với nhiều du khách, Bến tàu Santa Monica là điểm kết thúc mang ý nghĩa tinh thần cho hành trình dọc theo Route 66. Ảnh: Philip Cheung.

Khi con đường trở thành biểu tượng

Lúc 8h sáng, tại bãi đỗ xe của khách sạn Best Western ở ngoại ô St. Louis, Wolfgang Werz nhìn đồng hồ, thổi còi và tập hợp nhóm. Trước mặt ông là hơn chục du khách Đức và Thụy Sĩ, phần lớn ở tuổi trung niên, mặc áo da, đi bốt, chuẩn bị lên những chiếc Harley Davidson để tiếp tục hành trình trên Route 66.

Ngày hôm đó, họ sẽ chạy khoảng 320 km qua Missouri, dừng ở Wagon Wheel Motel, chiếc ghế bập bênh khổng lồ tại Fanning, cầu Devil’s Elbow, cửa hàng kẹo Redmon’s, tới Springfield, nơi được xem là quê hương của tuyến đường mang biệt danh “Phố chính của nước Mỹ”.

Werz, 67 tuổi, cựu huấn luyện viên trượt tuyết đến từ Tübingen, Đức, đã thuộc lòng nhịp điệu ấy. Đây là ngày thứ ba trong chuyến đi hai tuần, dài khoảng 4.000 km, từ Chicago tới Santa Monica, California. Trước khi cả đoàn nổ máy, ông hô câu quen thuộc: “Let’s go get your kicks”, lời gợi nhắc bài hát nổi tiếng về Route 66.

Cơn sốt trăm năm

Năm nay, Route 66, con đường được John Steinbeck gọi là “Mother Road” trong Chùm nho phẫn nộ, bước sang tuổi 100. Dọc tuyến đường, các nhà nghỉ, quán ăn, trạm xăng và cửa hàng lưu niệm đã sửa biển đèn neon, làm mới thực đơn và chất đầy hàng kỷ niệm để đón lượng khách tăng thêm.

Không có vé vào cửa Route 66 nên rất khó biết chính xác con đường này thu hút bao nhiêu khách. Năm 2011, nghiên cứu của Đại học Rutgers ước tính chi tiêu hằng năm dọc tuyến đạt khoảng 132 triệu USD. Năm kỷ niệm 100 tuổi, các chuyên gia địa phương dự báo con số này sẽ cao hơn đáng kể. Với những thị trấn nhỏ, đây là nguồn thu rất quan trọng.

Du khách quốc tế là nhóm chi tiêu lớn. Theo một số ước tính, hơn 1/3 khách đến từ nước ngoài. Ở châu Âu, Nam Mỹ, Nhật Bản, Úc và nhiều nơi khác đều có các hội yêu Route 66. Chủ cửa hàng nói khách quốc tế thường ở lâu hơn, mua nhiều hơn và dành thời gian hơn so với nhiều khách Mỹ.

Tại Fanning 66 Outpost ở Missouri, đồng chủ sở hữu Jennifer Brennan cho biết doanh số mùa hè tăng khoảng 50%. Nam châm, vòng tay, lọ muối tiêu và đồ lưu niệm bán rất chạy. Riêng trong một ngày, 120 tay lái quốc tế đã ghé qua. Một thành viên trong đoàn của Werz mua tới 16 áo phông trước khi tới Arizona. Một cặp vợ chồng Đức chi khoảng 10.000 USD mỗi người cho chuyến đi, gồm vé máy bay và tiền thuê mô tô.

Nước Mỹ trong trí tưởng tượng

Dù vậy, đây không phải thời điểm dễ dàng cho du khách quốc tế tới Mỹ. Một số khách hủy chuyến vì lo ngại không khí chính trị. Đồng USD mạnh, giá xăng, vé máy bay và bảo hiểm du lịch tăng cũng khiến hành trình đắt đỏ hơn.

Tuy nhiên, trên Route 66, chính trị dường như lùi lại phía sau. Du khách không muốn bước vào các tranh luận mà họ không có nhiều lợi ích trực tiếp. Chủ quán và nhà hàng cũng tránh bày tỏ quan điểm để không làm phật lòng khách. Với Werz, mọi quốc gia đều có vấn đề, tổng thống đến rồi đi, Route 66 vẫn ở đó.

Điều kéo nhiều người châu Âu tới đây là hình ảnh nước Mỹ họ từng lớn lên cùng: phim cao bồi, xe cổ, quán ăn ven đường, biển neon, trạm xăng, những thị trấn nhỏ và cảm giác tự do trên xa lộ. Tuổi thơ Werz gắn với Lassie, Bonanza và phim John Wayne. Trên hai cánh tay ông có hình xăm Route 66.

Với nhiều người, Route 66 không đơn thuần là đường. Roberto Rossi – người điều hành hội Route 66 tại Ý gọi con đường này là “gia đình bắt đầu ở Chicago và kết thúc tại bến tàu Santa Monica”.

Hoài niệm không dành cho tất cả

Route 66 từng là đường xuyên Mỹ của người rời vùng Dust Bowl, binh sĩ đi làm nhiệm vụ và các gia đình chuyển tới miền Tây. Sau này, khi hệ thống xa lộ liên bang mở rộng, nhiều thị trấn bị bỏ lại phía sau. Năm 1985, tuyến đường bị loại khỏi hệ thống liên bang.

Không lâu sau, Angel Delgadillo – thợ cắt tóc ở Seligman, Arizona, giúp lập Historic Route 66 Association, vận động dựng biển “Historic Route 66” để kéo khách trở lại. Chiến lược này thành công. Hàng nghìn người muốn tìm lại thời bản đồ giấy, xe station wagon và trạm xăng phục vụ tận nơi đã quay về.

Song, hoài niệm cũng có mặt tối. Ở những đoạn từng chịu luật Jim Crow, người da màu không được chào đón tại nhiều cơ sở. Threatt Filling Station gần Oklahoma City, một trong số ít trạm xăng do người da đen làm chủ trên Route 66, nhắc rằng với du khách da trắng và du khách da đen, trải nghiệm trên cùng con đường từng rất khác nhau.

Con đường không còn, ký ức vẫn sống

Ngày nay, Route 66 được làm mới bằng phim Cars, mạng xã hội, tranh tường, biển neon và các quán ăn biết biến mình thành điểm chụp ảnh. Ở Amarillo, Texas, Big Texan Steak Ranch livestream khách thử ăn hết miếng bít tết khoảng 2 kg trong một giờ để được miễn phí.

Điểm kết thúc chính thức của Route 66 nằm ở giao lộ Lincoln và Olympic tại Santa Monica. Tuy nhiên, với nhiều người, hành trình thật sự khép lại ở bến tàu cách đó khoảng 1,6 km, nơi Ian Bowen bán chứng nhận hoàn thành chuyến đi với giá 10 USD.

Tấm giấy ấy có thể hơi sến. Nhưng với những người vừa đi qua hàng nghìn kilomet, nó giữ lại cảm giác rằng họ đã chạm vào một phần nước Mỹ. Như một nhà sử học nói, Route 66 là con người. Đây là xa lộ thậm chí không còn tồn tại đầy đủ, nhưng vẫn tiếp tục sống trong ký ức, hàng quán, đồ lưu niệm và những chuyến đi mà nhiều người tin rằng đời này phải thử một lần.

shared via nytimes,

Wednesday, July 8, 2026

Four Seasons đưa khách sạn xa xỉ ra biển

Khách sạn Four Seasons I dài hơn 207 m, có 95 suite, 11 điểm ăn uống, bốn hồ bơi, spa chăm sóc sức khỏe.

Trong một buổi sáng cuối tháng 5, du thuyền Four Seasons I chở gần 200 hành khách lướt qua vùng biển lấp lánh của vịnh Saronic, thả neo ngoài khơi đảo Spetses của Hy Lạp. Hòn đảo thơm mùi thông, không sân bay, không bến du thuyền đông đúc và không xe hơi, từ lâu đã là điểm đến kín tiếng của nhóm du khách sành sỏi.

Từ trên tàu, các biệt thự ven biển kiểu Venice phản chiếu xuống làn nước Aegean xanh ngọc. Khi hành khách lên xuồng nhỏ vào bờ, ánh nhìn không chỉ hướng về hòn đảo. Từ phía bến nước, nhiều người cũng nhìn lại con tàu bóng bẩy mang logo Four Seasons, trông không khác mấy siêu du thuyền của người nổi tiếng.

Đây chính là thứ Four Seasons muốn tạo ra, trải nghiệm du thuyền nhưng mang hệ sinh thái khách sạn siêu sang ra biển.

Khi khách sạn hạng sang bước vào ngành du thuyền

Sau Ritz-Carlton, thương hiệu ra mắt tàu đầu tiên năm 2022, nhiều tên tuổi khách sạn xa xỉ như Four Seasons, Orient Express và Aman đang tiến vào ngành du thuyền. Họ không nhắm tới thị trường cruise đại chúng, mà hướng đến nhóm khách siêu giàu muốn hành trình riêng tư, dịch vụ cá nhân hóa và cảm giác gần với siêu du thuyền hơn tàu du lịch truyền thống.

Ngành du thuyền toàn cầu đang đạt nhu cầu kỷ lục, với 37,2 triệu hành khách trong năm 2025. Nhưng các thương hiệu khách sạn xa xỉ ban đầu lại nhắm tới nhóm chưa từng đi cruise. Họ đặt cược rằng lòng trung thành với thương hiệu sẽ kéo khách quen của khách sạn xuống biển, dù giá suite khởi điểm từ 31.000 USD và có thể vượt 200.000 USD.

Tháng 3 ra mắt, Four Seasons I dài hơn 207 m, có 95 suite, 11 điểm ăn uống, bốn hồ bơi, spa chăm sóc sức khỏe và bến marina cho phép khách nhảy thẳng từ tàu xuống biển. Orient Express cũng vừa giới thiệu Corinthian, du thuyền buồm dài gần 220 m chở 110 khách, giá từ 19.500 USD cho ba đêm. Tháng 5 năm sau, Aman dự kiến đưa du thuyền đầu tiên Amangati vào vận hành.

Điểm bán hàng của các thương hiệu này rất rõ ràng. Khách hàng vẫn nhận được tiện nghi, dịch vụ và sự chăm chút quen thuộc của khách sạn hạng sang, nhưng mỗi sáng thức dậy ở một điểm đến mới.

Suite như biệt thự nổi

Trên Four Seasons I, sự xa xỉ thể hiện rõ nhất ở không gian phòng. Khác với cabin cruise thông thường, vốn thường được lắp sẵn trên đất liền rồi đưa vào tàu như các khối Lego, từng suite của Four Seasons được xây trực tiếp trên thân tàu để đạt mức hoàn thiện riêng.

Ngay cả hạng Seaview Suite thấp nhất cũng có quy mô vượt xa cabin du thuyền phổ biến. Cửa kính sát trần mở ra sân hiên rộng, nối liền giường king, khu ăn uống và sofa với mặt biển. Phòng có tủ quần áo walk-in, quầy bar nhỏ, tủ kính trưng bày sách và tác phẩm nghệ thuật. Phòng tắm lát đá quartzite xanh ngọc, có bồn tắm, vòi sen walk-in và sàn sưởi.

Ở nhóm cao hơn, một số suite có nhiều phòng ngủ, boong riêng và hồ ngâm. Đắt nhất là Funnel Suite rộng hơn 926 m², trải trên bốn tầng, có hồ ngâm, phòng gym ngoài trời và kính bao quanh từ sàn đến trần. Giá suite này từng vượt 300.000 USD.

Với nhiều khách, điều làm nên khác biệt không chỉ là diện tích mà là dịch vụ quản gia riêng. Một hành khách được nâng hạng lên Loft Suite ba phòng ngủ, hai tầng, cho biết quản gia lo gần như mọi việc, từ đặt lịch, đổi lịch, bữa tối, spa đến các chuyến tham quan. Tinh thần của dịch vụ là khách không phải nghĩ đến ngày mai.

Xa xỉ nhưng chưa hoàn toàn trọn gói

Dù vậy, Four Seasons I không tránh khỏi những điểm gây tranh luận. Ở mức giá hơn 4.000 USD/đêm, chỉ bữa sáng được bao gồm, và chỉ khi khách ăn tại nhà hàng. Trong khi đó, nhiều hãng cruise hạng sang như Silversea, Explora Journeys, Ritz-Carlton hay Orient Express đi theo mô hình gần như trọn gói, bao gồm tiền tip, rượu, Wi-Fi, ăn uống đặc biệt hoặc một số chuyến tham quan.

Với nhóm du khách cao cấp, mô hình trọn gói ngày càng hấp dẫn vì họ muốn trả trước hàng chục nghìn USD để tránh cảm giác bị tính thêm từng khoản nhỏ. Four Seasons chọn mô hình giống khách sạn hơn, nơi khách trả riêng cho từng trải nghiệm. Cách này đem lại sự linh hoạt, nhất là khi tàu dành nhiều thời gian ở cảng và khách có thể ăn tại điểm đến. Nhưng việc này cũng có thể khiến những người quen đi cruise so sánh về giá trị.

Một số hành khách không quá bận tâm, đặc biệt là khách quen của Four Seasons chưa từng đi du thuyền. Nhưng cũng có người cho rằng ở mức giá này, đồ ăn và thức uống cơ bản nên được bao gồm. Một bữa omakase tại nhà hàng Nhật trên tàu có thể tốn hơn 400 USD cho hai người, trong khi chất lượng không phải lúc nào cũng tương xứng kỳ vọng.

Trải nghiệm đắt đỏ nhưng khó sao chép

Các chuyến tham quan trên bờ cũng là phần các thương hiệu khách sạn cần học thêm khi bước vào ngành hàng hải. Vận hành du thuyền không chỉ là thiết kế tàu đẹp và phục vụ tốt. Nó còn bao gồm cảng, xuồng trung chuyển, hải quan, an toàn hàng hải và lịch trình nhiều điểm đến, những thứ khách sạn trên đất liền hiếm khi phải xử lý.

Trải nghiệm đáng nhớ nhất đến khi tàu thả neo tại vịnh vắng ngoài khơi đảo Folegandros. Hai boong bên hông mở ra, để lộ xe đạp nước, ván chèo, kayak và các thiết bị vui chơi trên biển. Từ mặt nước nhìn lại, Four Seasons I hiện lên đúng như lời hứa, không phải tàu cruise đông đúc, đây là khách sạn nổi mang dáng dấp siêu du thuyền.

Thời điểm nhiều điểm du lịch quá tải và các hãng cruise cạnh tranh từng vị trí cập cảng, khả năng neo ở những vùng biển riêng tư là lợi thế lớn. Four Seasons đang bán không chỉ một hành trình, mà là cảm giác được tránh khỏi đám đông, tiếp cận biển theo cách kín đáo và được chăm sóc đến từng chi tiết.

Đây là kiểu trải nghiệm “tiền không mua được.”

shared via nytimes,

Wednesday, May 27, 2026

Đặt bàn cho năm 2046 giữa New York đổi thay chóng mặt

Gage & Tollner, nhà hàng có lịch sử từ năm 1879, là một trong năm nhà hàng ở New York nhận một số lượng đặt chỗ hạn chế cho năm 2046 trong chiến dịch quảng bá của StreetEasy. Ảnh: Adam Friedlander

Để kỷ niệm 20 năm hoạt động, StreetEasy, trang niêm yết bất động sản tại New York, tung ra chương trình khuyến mãi đặc biệt, nhận đặt chỗ trước cho năm 2046. Trong chiến dịch mang tên “Reserve Your Future”, công ty cho phép người dùng đặt chỗ tại 12 cơ sở địa phương, gồm năm nhà hàng, hai công ty sân khấu, một phòng yoga và một quán espresso. Toàn bộ chỗ được đặt hết trong vòng chưa đầy một giờ. Những người nhanh tay chỉ cần nhập tên và email vào biểu mẫu đơn giản, rồi nhận thư xác nhận với dòng mở đầu: “Đặt chỗ năm 2046 của bạn đã được xác nhận.”

Ý tưởng này vừa hài hước vừa gợi ra nhiều câu hỏi rất New York. Liệu StreetEasy còn tồn tại đến năm 2046 không? Theo người phát ngôn công ty, câu trả lời là có. Người đặt chỗ có còn đến được buổi hẹn ấy không? Câu này khó nói hơn. Các nhà hàng thì sao? Danh sách tham gia gồm Roberta’s, Gage & Tollner và The Commodore ở Brooklyn, cùng Russ & Daughters Cafe và Clinton Street Baking Company ở Manhattan.

Lucas Walters, đối tác tại The Commodore, nói không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng mục tiêu là muốn nhà hàng tồn tại mãi. Tuy vậy, trong ngành nhà hàng, “mãi mãi” là khái niệm xa xỉ.

Tuổi thọ mong manh của nhà hàng

Tỷ lệ sống sót của nhà hàng vốn thấp, dù con số chính xác không dễ xác định. Hiệp hội Nhà hàng Quốc gia Mỹ không có dữ liệu riêng về tuổi thọ trung bình hay tỷ lệ đóng cửa của nhà hàng mới. Dữ liệu gần nhất đến từ khảo sát hằng năm của Cục Thống kê Dân số Mỹ, trong đó nhà hàng và lưu trú được gộp vào cùng nhóm. Vì nhà hàng chiếm khoảng 90% nhóm này, đại diện hiệp hội cho rằng đây là thước đo thay thế khá hợp lý.

Theo cách tính ấy, triển vọng không mấy sáng sủa. Chưa đến 1/4 cơ sở trong nhóm nhà hàng – lưu trú đạt tuổi đời 16 năm trở lên. Trong chiến dịch của StreetEasy, Russ & Daughters Cafe là nhà hàng trẻ nhất, mở cửa từ năm 2014. Gage & Tollner là lâu đời nhất, có nguồn gốc từ năm 1879, nhưng từ năm 2004–2021, nhà hàng từng gần như “chết lâm sàng” trước khi được ba người chủ hiện tại hồi sinh.

Ba chủ của Gage & Tollner đều từng điều hành các nhà hàng không qua được thập niên thứ hai. St. John Frizell đóng cửa Fort Defiance sau 14 năm. The Good Fork của Sohui Kim và Ben Schneider cũng dừng lại ở tuổi 14. Với Gage & Tollner, họ hy vọng có chặng đường dài hơn. Frizell nói kế hoạch là ở lại lâu dài, vì vậy họ đã ký hợp đồng thuê dài hạn.

Tồn tại nhờ hợp đồng thuê

Trong số nhiều nguyên nhân khiến nhà hàng New York đóng cửa, từ lạm phát, khách hàng thay đổi khẩu vị, mâu thuẫn gia đình, xung đột giữa đối tác đến tuổi tác của chính chủ quán, tiền thuê mặt bằng luôn là nỗi ám ảnh lớn. Khi hợp đồng thuê đến hạn gia hạn, nhiều chủ nhà đòi tăng giá mạnh, khiến nhà hàng dù đông khách vẫn có thể không trụ nổi.

Dede Lahman, đối tác tại Clinton Street Baking Company, nói mọi chuyện đều nằm ở hợp đồng thuê. Tối thứ Ba, nhà hàng này vừa tổ chức kỷ niệm 25 năm. Lahman cho biết họ có hợp đồng thuê dài hạn và từng vượt qua cả vụ khủng bố 11/9 lẫn đại dịch, nên khá tin rằng có thể tồn tại đến năm 2046.

Khi chọn đối tác cho chiến dịch, StreetEasy cố tìm những nhà hàng có khả năng bền bỉ. Amanda Shur, người phát ngôn công ty, nói họ chủ ý chọn các doanh nghiệp đã vượt qua nhiều thay đổi của thành phố. Tuy vậy, các đặt chỗ vẫn tùy thuộc vào quyết định của từng cơ sở và dĩ nhiên phụ thuộc vào việc những nơi ấy còn hoạt động không.

Russ & Daughters Cafe cũng từng muốn chứng minh họ có ý định lâu dài. Khi tìm mặt bằng, Niki Russ Federman và đối tác Josh Russ Tupper nói họ muốn ký hợp đồng thuê 100 năm. Hầu hết chủ nhà bật cười, trừ người cuối cùng đã cho họ thuê. Dù vậy, hai bên cuối cùng chỉ ký 12 năm và vừa gia hạn thêm 12 năm nữa.

Cuộc hẹn cần được ghi nhớ trong 20 năm

Roberta’s đã đốt lò pizza củi suốt 18 năm, nhưng năm ngoái các chủ quán phải đóng hai nhà hàng khác. Foul Witch chưa kịp tới sinh nhật thứ ba, Blanca dừng lại ở tuổi 13 sau khi chủ nhà không gia hạn hợp đồng thuê, theo Carlo Mirarchi, chủ sở hữu. Khi được hỏi hợp đồng thuê của Roberta’s kéo dài đến khi nào, Mirarchi đáp: “Đến năm 2047, tất nhiên rồi.”

Vấn đề còn lại là làm sao theo dõi những địa điểm đặt chỗ cho năm 2046. Các nền tảng đặt bàn trực tuyến hiện đang cạnh tranh dữ dội, dùng tiền và ưu đãi để lôi kéo nhà hàng chuyển dịch vụ. Trong số các nền tảng lớn, OpenTable là cái tên duy nhất đã tồn tại hơn 20 năm.

Frizell thử kiểm tra hệ thống đặt bàn của Gage & Tollner trên OpenTable ngay trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại. Hóa ra giao diện này thật sự cho phép ghi nhận đặt chỗ đến năm 2046. Dù vậy, ông vẫn không chắc 20 năm nữa các nhà hàng còn dùng máy tính không. Kế hoạch dự phòng của ông rất cổ điển, ghi mọi thứ ra giấy và cất trong két sắt nhà hàng.

shared via nytimes,

Tuesday, May 26, 2026

36 giờ ở Hồng Kông: Thành phố của ký ức và đổi thay


Hồng Kông vẫn là đô thị lấp lánh của cảng biển, cao ốc, dim sum và những con phố không ngủ. Tuy nhiên, sau các biến động chính trị, làn sóng di cư, thành phố đang được người dân nhìn lại bằng nỗi hoài nhớ rất Wong Kar-wai: tiếc nuối những điều đã mất, gìn giữ những gì còn sót lại. Hành trình 36 giờ ở Hồng Kông không chỉ là lịch trình ăn chơi, mà là cuộc tìm kiếm ký ức trong những tiệm trà cũ, khu nghệ thuật mới, đồi nhỏ, quán cơm niêu và đảo xanh ngoài khơi.

Chiều thứ Sáu: trở về Hồng Kông xưa ở Sheung Wan

Hãy bắt đầu ở Sheung Wan, một trong những khu phố lâu đời nhất Hồng Kông. Đây là nơi quá khứ thương cảng vẫn còn hiện diện trong mùi trà, quế, trần bì và tiêu Tứ Xuyên.

Tại Cheung Hing Tea Hong, tiệm trà lâu đời, người bán trà vẫn gói thiết quan âm bằng giấy theo cách thủ công, không cần băng dính hay dây buộc. Chỉ vài động tác gấp, vuốt, ép nhẹ đã biến một phần trà thành gói nhỏ vừa lòng bàn tay. Gần đó, Yuan Heng Spice Company bày đủ loại gia vị, từ vỏ quế đến tiêu Tứ Xuyên, trong không gian có những chú mèo trở thành “cư dân danh dự” của khu phố.

Sheung Wan hấp dẫn vì không cố diễn lại quá khứ; nơi đây lặng lẽ tiếp tục tồn tại, như thể thành phố ngoài kia có thay đổi ra sao thì những tiệm trà, tiệm gia vị và cầu thang dốc vẫn giữ nhịp riêng.

Tai Kwun: nhà tù cũ, nghệ thuật mới

Từ Sheung Wan đi đến Tai Kwun, khu nhà tù và đồn cảnh sát từ thế kỷ 19 được cải tạo thành tổ hợp nghệ thuật công cộng. Với Hồng Kông, các di sản thuộc địa luôn chứa nhiều lớp cảm xúc: vừa là kiến trúc lịch sử, vừa là ký ức về quyền lực áp đặt. Vậy nên Tai Kwun không chỉ là điểm check-in, mà là cách thành phố thương lượng với quá khứ.

Ẩn trong mê cung lối đi của khu phức hợp là 001, một speakeasy sau cánh cửa đen không biển hiệu. Tìm được quán là một phần thú vui; gọi ly martini Earl Grey là phần thưởng. Tiếp theo có thể ghé Tai Kwun Contemporary, nơi các triển lãm đương đại đặt thần thoại, sinh thái và nữ quyền vào cùng một không gian đối thoại.

Bữa tối nên ở Nove at the Fringe, nhà hàng trong tòa nhà gạch từng là kho sữa thế kỷ 19, nay thuộc Fringe Club. Sau món thịt xá xíu mật ong hay dưa hấu sốt mala, hãy kết thúc đêm bằng cocktail ở Penicillin, quán bar dùng vỏ cacao, nước tương, thân hẹ cháy và cả phế phẩm thực phẩm để tạo đồ uống mới.

Sáng thứ Bảy: trà, dim sum và bảo tàng trong công viên

Buổi sáng Hồng Kông nên bắt đầu chậm. Đi qua hồ cá koi, rùa và hoa súng trong Hồng Kông Park, rồi vào Flagstaff House Museum of Tea Ware, dinh thự Tân cổ điển Hy Lạp từng là nơi ở của chỉ huy quân Anh.

Tầng trệt là LockCha, trà quán gỗ trầm tĩnh với hơn 100 loại trà trắng, trà vàng và trà xanh. Hồng Kông không thiếu dim sum, nhưng dim sum chay lại hiếm. Vì vậy, xíu mại chay nấm truffle đen, bánh bao nhân custard hấp và salad mộc nhĩ sốt mè là trải nghiệm nhẹ nhàng, thanh sạch trước khi bước vào ngày dài.

Điểm đến tiếp theo là M+, bảo tàng nghệ thuật đương đại mở cửa năm 2021 ở khu Tây Cửu Long. Với hơn 8.000 tác phẩm trong bộ sưu tập, M+ cho thấy Hồng Kông vẫn là điểm gặp quan trọng của nghệ thuật Trung Quốc đương đại, thiết kế, hình ảnh động và phê bình thị giác. Ngay trong bối cảnh tự do biểu đạt bị thu hẹp, bảo tàng vẫn có những tác phẩm gợi nhiều suy ngẫm về quyền lực, thất vọng chính trị và đời sống hiện đại.

Yau Ma Tei và Sham Shui Po: mùi hương, sách cũ và tinh thần nổi loạn

Chiều thứ Bảy, hãy đến Yau Ma Tei, cảng cá cũ nơi các tiệm hương và xưởng chạm gỗ vẫn phục vụ những nghi lễ gắn với đời sống ngư dân. Trước đó, ghé Tai On Coffee and Tea Shop, quán ăn kiểu Quảng Đông có tường vàng vui mắt và nhiều chi tiết tri ân điện ảnh Hồng Kông như ảnh Maggie Cheung trong In the Mood for Love. Set bánh tart trứng đủ vị là cách ngọt ngào để bắt đầu buổi chiều.

Gần đó, Cheung Shing Fans Factory bán hương, tinh dầu và quạt gỗ đàn hương; còn Kwok Kee Wood Ware Sculpture vẫn có nghệ nhân ngồi ngoài cửa, chạm khắc và sơn tượng gỗ dùng trong thờ cúng tổ tiên.

Sau đó, chuyển sang Sham Shui Po, khu bán buôn may mặc nay trở thành điểm đến sáng tạo. Ở đây có tiệm đồ chơi vintage, cửa hàng đĩa vinyl, quầy sửa ô, gallery độc lập và nhà sách nhỏ. Parallel Space trưng bày nghệ sĩ trẻ Hồng Kông không né tránh bình luận xã hội. Book Punch bán văn học, thơ và sách thiếu nhi về cảm xúc, đôi khi còn tặng rau hoặc đồ ăn vặt cho khách. Bound Kowloon là quán cà phê – bar neon sáng, có tinh thần nổi loạn, nơi nhạc punk, jazz và cocktail shochu gừng cùng tồn tại.

Garden Hill và cơm niêu Temple Street

Trước bữa tối, hãy leo Garden Hill. Từ gần YHA Mei Ho Youth Hostel ở Shek Kip Mei, chỉ mất khoảng 10’ đi cầu thang lên khoảng bê tông phẳng nhìn xuống các khu nhà dân rực màu. Từ đây, Hồng Kông hiện ra không giống skyline hào nhoáng từ Victoria Peak, mà như thành phố của nhà ở công, lao động và sức bền tầng lớp bình dân.

Tối đến, ghé Hing Kee ở Temple Street để ăn cơm niêu đất. Gạo được nấu trên than với lạp xưởng, hải sản hoặc các loại topping thơm béo. Rưới nước tương ngọt, cạo phần cơm cháy giòn sát đáy nồi, ngồi giữa hơi nóng, tiếng gọi món và dòng người xếp hàng – đây là Hồng Kông rất đời thường, rất thật.

Chủ Nhật: ra đảo để thấy thành phố thở

Sáng Chủ Nhật, rời trung tâm để đến đảo Sharp, hòn đảo xanh phía đông bắc Hồng Kông. Từ bến Sai Kung, mua bánh dứa ở Sai Kung Cafe and Bakery, rồi lên thuyền ra đảo.

Đảo Sharp có đường mòn, bãi biển, đá núi lửa và cảm giác tách khỏi thành phố mà không quá xa. Khi thủy triều xuống, có thể đi qua Sharp Island Sand Levee, con đường tự nhiên phủ đá monzonite được gọi vui là đá “bánh dứa” vì hình dáng giống lớp vỏ nứt của món bánh địa phương.

Hồng Kông thường được nhìn như thành phố của tốc độ, tiền bạc và cao ốc. Tuy nhiên, chỉ trong 36 giờ, Hồng Kông khác hiện ra: những tiệm trà gói giấy bằng tay, nhà tù cũ thành không gian nghệ thuật, nhà sách tặng rau, đồi nhỏ nhìn xuống nhà ở và hòn đảo có đá giống bánh dứa.

Đây là thành phố mất đi nhiều thứ, nhưng chưa đánh mất hoàn toàn linh hồn vốn có.

shared via nytimes,

Thursday, May 21, 2026

Vì sao cà phê pour-over ngày càng ngon?


Pour-over từng là biểu tượng của cà phê thủ công: đẹp, chậm, kỹ thuật và đầy tính nghi lễ. Tuy nhiên, với quán cà phê, đây cũng là một bài toán khó vì mất thời gian, cần barista lành nghề và dễ cho kết quả không ổn định. Nay, các máy pha tự động mới đang cố giữ lại hương vị tinh tế của pour-over, đồng thời giải quyết điểm yếu lớn nhất của nó: làm sao pha được nhiều ly ngon, đều và đủ nhanh trong giờ cao điểm.

Khi ly cà phê trở thành nghi lễ

Ở Mỹ, gần như mọi quán cà phê đều có drip coffee – cà phê phin giấy pha bằng máy nhỏ giọt, tương tự máy nhiều gia đình dùng ở nhà. Bạn cho bột cà phê vào giấy lọc, máy rót nước nóng lên trên, cà phê chảy xuống bình.

20 năm qua, cách pha khác trở thành biểu tượng của cà phê chất lượng cao: pour-over. Đây là phương pháp pha thủ công bằng bình cổ ngỗng, giấy lọc và dripper, nước nóng rót từ từ lên lớp bột cà phê.

Với người yêu cà phê, pour-over hấp dẫn vì sự chính xác và tính nghi thức. Người pha kiểm soát lượng nước, tốc độ rót, thời gian nở cà phê, nhiệt độ và dòng chảy. Ly cà phê ngon có thể làm nổi bật hương trái cây, hoa, vị chua sáng hoặc hậu vị phức tạp của hạt cà phê đặc sản.

Tuy nhiên, với quán cà phê đông khách, đây lại là cơn đau đầu.

Vì sao pour-over khó với quán cà phê?

Ly pour-over trong điều kiện lý tưởng mất khoảng 3’ để pha, chưa kể thời gian chuẩn bị, tráng giấy lọc, xay hạt và dọn bã. Cùng thời gian này, barista giỏi có thể làm nhiều ly espresso hoặc đồ uống sữa.

Vấn đề không chỉ là thời gian; pour-over còn khó ổn định. Chỉ cần thay đổi nhỏ trong độ mịn của bột, độ cao khi rót, tốc độ dòng nước, nhiệt độ hoặc cách khuấy, kết quả đã khác. Cà phê có thể bị nhạt, chua, đắng hoặc thiếu chiều sâu.

Thậm chí, có quán phải ghi trên menu: “manual brew, wait time 10 minutes” – pha thủ công, chờ 10’. Điều này cho thấy sự lúng túng của ngành: khách thích cà phê đặc sản, song không phải ai cũng sẵn sàng trả giá tương xứng cho thời gian của barista.

Cà phê đặc sản tạo ra nhu cầu mới

Để hiểu vì sao pour-over bùng nổ, cần nhìn lại sự thay đổi của cà phê vài thập niên qua. Từ thập niên 1970, cà phê bắt đầu thoát khỏi vị thế hàng hóa đồng nhất. Peet’s Coffee nhấn mạnh xuất xứ hạt. Sau này, Starbucks phổ biến espresso rộng rãi hơn tại Mỹ.

Đầu những năm 2000, các quán như Intelligentsia ở Chicago và Stumptown ở Portland đưa cà phê đặc sản lên tầm cao mới. Họ không chỉ ghi quốc gia xuất xứ, mà còn nêu trang trại, hợp tác xã, giống cây, vùng trồng và phương pháp xử lý; họ rang nhẹ hơn để giữ hương trái cây, hoa và độ chua sáng, thay vì rang đậm đến mức mọi hạt đều có vị khói, caramel và chocolate.

Khi khách hàng muốn thử nhiều loại hạt single-origin, quán cà phê gặp bài toán mới. Máy drip công nghiệp thường chỉ pha được hai hoặc ba loại: cà phê rang đậm, cà phê rang nhạt, cà phê không caffeine. Tuy nhiên, cửa hàng có thể bán 10 – 20 loại hạt khác nhau. Làm sao để khách nếm được nhiều lựa chọn ấy? Câu trả lời là pour-over: pha từng ly theo yêu cầu.

V60 và vẻ đẹp của cà phê thủ công

Ra mắt năm 2005, biểu tượng của pour-over hiện đại là V60, dripper của công ty Nhật Hario. Con số 60 chỉ góc 60 độ của phễu hình nón, giúp nước chảy về một lỗ ở đáy. Thiết kế đơn giản, đẹp và tạo cảm giác chính xác kiểu Nhật.

V60 nhanh chóng được người yêu cà phê đón nhận; thay thế nhiều dripper cũ có đáy phẳng hoặc hình thang, nơi nước dễ bị kẹt và dòng chảy kém đều.

Tuy nhiên, V60 cũng đòi hỏi kỹ thuật. Đây là phương pháp percolation – nước đi qua lớp bột cà phê rồi nhỏ xuống cốc. Muốn ngon, nước phải chảy đều qua toàn bộ lớp cà phê, không đi tắt quanh mép giấy lọc, không tạo kênh dòng chảy nhanh gọi là channeling, cũng không bị tắc khiến cà phê bị chiết xuất quá mức. Chính vì vậy, V60 vừa là công cụ tuyệt vời, vừa là bài kiểm tra tay nghề.

Máy pha đôi khi làm tốt hơn con người

Sự thật khiến nhiều người yêu pour-over khó chịu: máy pha cà phê tốt đôi khi cho ly ổn định hơn tay người. Từ thập niên 1970, các máy như Moccamaster xuất hiện và có hai lợi thế lớn.

Thứ nhất là giữ nhiệt. Quá trình pha, hỗn hợp nước và cà phê mất nhiệt vào không khí và vào chính dripper. Các vật liệu đẹp như đồng, kính, gốm lại có khối lượng nhiệt lớn, hút nhiệt khỏi cà phê. Nhựa rẻ tiền lại giữ nhiệt tốt hơn. Máy pha, ngược lại, có hệ thống bên trong nóng đều cùng nước.

Thứ hai là độ lặp lại. Máy rót nước theo cùng một cách mỗi lần. Còn con người, dù giỏi, vẫn thay đổi góc rót, độ cao, tốc độ và lực tay. Với cà phê, những thay đổi nhỏ này có thể tạo khác biệt lớn.

Vậy vì sao pour-over vẫn được yêu thích? Vì pour-over không chỉ là hương vị mà còn là nghi lễ, sự chăm chút và cảm giác ly cà phê được làm riêng.

Starbucks từng suýt giải được bài toán

Năm 2006, thiết bị tên Clover xuất hiện và gần như giải được vấn đề của pour-over trong quán. Clover là máy pha từng ly, kết hợp ngâm cà phê với hệ thống hút chân không. Barista cho bột vào buồng pha, máy rót nước ở nhiệt độ lập trình sẵn, cà phê ngâm khoảng 1’; bộ lọc nâng lên, hút cà phê xuống cốc và giữ bã lại phía trên. Clover nhanh, sạch, ổn định và tạo ra cà phê rất ngon. Năm đầu, 100 máy được bán. Năm 2008, Starbucks mua lại công ty sản xuất Clover, ngừng bán cho các quán khác và đóng diễn đàn hỗ trợ CloverNet.

Howard Schultz uống ly Clover đầu tiên ở Café Grumpy tại Manhattan và gọi đây là ly cà phê ngon nhất ông từng uống. Starbucks muốn dùng Clover để cạnh tranh với McDonald’s McCafé ở phân khúc đại chúng và với các chuỗi specialty như Stumptown, Blue Bottle.

Tuy nhiên, chiến lược không kéo dài. Năm 2019, Starbucks bắt đầu loại bỏ Clover khỏi nhiều cửa hàng. Người uống specialty không dễ bị thuyết phục bởi Starbucks, trong khi khách đại chúng thích nitro cold brew, frappuccino và các đồ uống viral hơn.

Cuộc đua tự động hóa pour-over

Sau Clover, nhiều công ty tiếp tục tìm cách tự động hóa pour-over mà vẫn giữ được vẻ thủ công. Poursteady dùng ống nước nhỏ thay vai trò barista, rót theo chương trình tùy chỉnh vào nhiều dripper cùng lúc. Máy năm vòi có thể pha năm V60 đồng thời, cho khách xem được “nghi lễ” pour-over nhưng giảm gánh nặng tay nghề.

Tone Touch cũng rót nước tự động từ phía trên, thường kết hợp với các dripper mới như Tricolate. Đây là loại no-bypass brewer, tức thiết kế để nước không thoát quanh mép giấy lọc mà buộc phải đi qua toàn bộ lớp cà phê, giúp chiết xuất nhiều hương vị hơn. Nhược điểm là thời gian pha dài, thường 6 – 10 phút.

xBloom lại đi theo hướng máy pod cao cấp. Khác các pod cà phê thông thường, xBloom dùng hạt nguyên từ các nhà rang tốt. Mỗi pod có chip RFID cho máy biết cần xay ở mức nào, dùng nước nhiệt độ bao nhiêu và rót thế nào. Mục tiêu là giúp người dùng ở nhà pha được ly gần giống quán mà không cần hiểu sâu về “dialing in”.

Decent Espresso và tương lai của filter coffee

Hướng đặc biệt thú vị đến từ Decent Espresso, chiếc máy espresso có thể kiểm soát áp suất, lưu lượng và nhiệt độ nước rất chính xác. Nhờ đây, Decent Espresso không chỉ pha espresso mà còn có thể tạo những shot rất dài, gần như pour-over.

Phiên bản mới gọi là Filter3, do chuyên gia cà phê Scott Rao phát triển, dùng basket hình trụ dài, giấy lọc nhỏ ở đáy và nước chảy đều qua toàn bộ cà phê. Vì basket nằm sát grouphead nóng của máy espresso, nhiệt được giữ tốt. Vì một phần ngâm trong basket, phương pháp này cũng dễ tha thứ hơn với sai lệch độ xay.

Filter3 cho mức chiết xuất cao hơn V60 thủ công: 20,44% so với 16,69% trong một lần dùng cùng loại hạt Honduras. Với người pha không chuyên, chiết xuất cao hơn thường đồng nghĩa ly cà phê đầy đặn, sâu và cân bằng hơn.

Điểm hấp dẫn với quán là quy trình đơn giản: cà phê được cân sẵn, barista xay vào basket, bấm máy, chờ khoảng 3’ và dọn dẹp dễ hơn pour-over truyền thống. Máy Decent nhỏ, giá cạnh tranh với nhiều thiết bị quán và vẫn là máy espresso đầy đủ chức năng.

Cà phê ngon hơn nhờ bớt phụ thuộc vào tay nghề

Tương lai của pour-over không phải từ bỏ nghi lễ, mà là biết khi nào nên tự động hóa. Với người uống ở nhà, rót tay vẫn có niềm vui riêng. Tuy nhiên, với quán cà phê, mục tiêu lớn hơn là cho nhiều khách tiếp cận nhiều loại hạt ngon, với chất lượng ổn định và không phải chờ quá lâu.

Cà phê đặc sản đã đi chặng dài: từ hạt bị xem như hàng hóa đồng nhất, đến từng lô từ trang trại cụ thể; từ rang đậm che mùi, đến rang nhẹ để phô hương; từ vài bình drip sau quầy, đến menu nhiều lựa chọn toàn cầu.

Bước tiếp theo là công nghệ pha. Nếu máy móc có thể giữ nhiệt tốt, rót đều, xay chính xác và lặp lại công thức tốt hơn con người, pour-over sẽ không mất đi linh hồn mà chỉ bớt thất thường hơn.

Ly cà phê ngon không nhất thiết phải được pha bằng tay từ đầu đến cuối. Điều quan trọng là ly cà phê giúp người uống nếm được rõ hơn hạt cà phê đến từ đâu, được rang ra sao và có gì đặc biệt. Nếu công nghệ làm điều này nhanh, đều và dễ tiếp cận hơn, pour-over sẽ không biến mất mà chỉ phát triển.

shared via wip, 

Thursday, May 14, 2026

Theo dấu Benjamin Franklin tại Paris


Ở tuổi 70, khi nhiều người chọn lui về an hưởng tuổi già, Benjamin Franklin vượt Đại Tây Dương và những chuyến xe ngựa mệt mỏi để đến Pháp. Tại Paris, ông dùng sự duyên dáng, kiên nhẫn và tài ngoại giao để thuyết phục người Pháp ủng hộ cuộc nổi dậy của Mỹ – bước ngoặt giúp thay đổi lịch sử.

Người lập quốc “còn sống” trong ký ức Mỹ

Benjamin Franklin là một trong số ít nhà lập quốc Mỹ có sức hấp dẫn đặc biệt. Thomas Jefferson hay James Madison thuộc về giới học giả; Franklin lại có người hâm mộ. Ông gần gũi, đời thường, kiểu nhân vật lịch sử người ta muốn ngồi trò chuyện cùng cốc bia.

Khi nước Mỹ chuẩn bị kỷ niệm 250 năm Tuyên ngôn Độc lập, hành trình Franklin tại Pháp càng trở nên đặc biệt. Franklin không chỉ là một trong những bộ óc lớn nhất thời lập quốc, mà còn là thành tựu ngoại giao quan trọng nhất nhưng đến muộn: khi ông đã ở tuổi 70, đau yếu, nhưng vẫn đủ sức thuyết phục triều đình Pháp dè dặt hậu thuẫn quân nổi dậy Mỹ bằng tiền bạc và vũ khí.

Franklin không phải người trẻ đi tìm vinh quang; ông là chính khách già, mang bệnh, nhưng vẫn làm điều được xem là đòn bẩy sống còn cho chiến thắng George Washington trước người Anh.

Bảy tuần trên biển để đến nước Pháp

Franklin là người hay di chuyển nhất trong số các nhà lập quốc Mỹ. Ông đi khoảng 70.000 km và 8 vượt Đại Tây Dương. Năm 1776, ông lên đường sang Pháp cùng hai cháu nội. Ngày nay, chuyến bay qua Đại Tây Dương mất khoảng bảy giờ; khi đó, hành trình của Franklin kéo dài bảy tuần.

Con tàu từ Philadelphia đến Pháp không hề dễ chịu. Franklin gọi đó là con tàu “khốn khổ”: biển mùa thu dữ dội, khoang chật chội, thức ăn cứng và chuyến đi gần như vắt kiệt sức ông. Một ngày tháng 12 lạnh giá, ông cập bến Auray, ngôi làng ở vùng Brittany.

Ngày nay, Auray vẫn giữ dấu vết Franklin bằng bến cảng, quán bar; thậm chí có cả vị kem mang tên ông. Từ sân hiên quán crêpe tên Le Franklin, có thể nhìn thấy những thuyền buồm gỗ trong cảng, mái nhà đen tương phản với mây trắng và các sạp sách ven đường được bày cẩn thận.

Franklin không ở Auray lâu. Ngày hôm sau, ông bắt đầu hành trình bằng xe ngựa đến Paris, vượt qua đường sá gập ghềnh, nguy cơ cướp có vũ trang và những đám đông hâm mộ.

Passy, nơi Franklin trở thành “cha thân yêu”

Ở Pháp, Franklin nổi tiếng nhờ các thí nghiệm về điện. Khi ông đến Paris, đám đông reo hò chào đón trên Rue de l’Université. Không lâu sau, ông sống tại Passy, lúc này là làng ngoại ô, nay thuộc quận 16 sang trọng của Paris.

Passy rất hợp Franklin. Ông sống tại Hôtel de Valentinois, nơi vừa là nhà riêng vừa là cơ quan đại diện không chính thức đầu tiên của nước Mỹ non trẻ. Căn nhà nằm đủ gần Paris để tiện liên lạc, cũng đủ xa để có khoảng thở, lại nằm trên đường tới Versailles, trung tâm quyền lực nước Pháp.

Franklin yêu Passy. Ông thích không khí trong lành, nước suối trong hơn London, nơi ông từng sống 17 năm. Ngôi nhà có vườn rộng, hầm rượu, máy in trong tầng hầm và cột thu lôi trên mái – phát minh khác của Franklin.

Người Pháp cũng yêu ông. Họ gọi ông là “Mon cher papa” – người cha thân yêu. Franklin xuất hiện ở các salon trí thức, đặc biệt là nhà của Madame Helvétius ở Auteuil, nơi giới triết gia tụ họp. Ông thường chơi cờ tới khuya, miễn nến còn cháy.

Versailles và bước ngoặt của cách mạng Mỹ

Ngày nay, từ Paris đến Versailles mất hơn nửa giờ đi tàu. Với Franklin, đây là chuyến xe ngựa kéo dài nhiều giờ trên đường xóc nảy, khiến chứng sỏi thận đau hơn. Ông vẫn đi, bởi Versailles là nơi cần đến.

Năm 1778, trong căn phòng không quá lộng lẫy của cung điện – phòng Hội đồng, nơi vua Louis XVI xử lý công việc – Franklin có buổi yết kiến nhà vua; đánh dấu hai hiệp ước Pháp – Mỹ non trẻ vừa ký. Từ đây, người Pháp không chỉ hỗ trợ nửa vời; họ đứng về phía les insurgés, những người nổi dậy Mỹ.

Đây là bước ngoặt lớn. Franklin đạt được thỏa thuận không bằng ép buộc hay mua chuộc, mà bằng sự mềm mỏng, hài hước, thấu hiểu và khả năng khiến người khác muốn đứng về phía mình. Cách làm khác hẳn những đồng sự gai góc như John Adams hay Arthur Lee.

Đến nay, nước Pháp vẫn có Rue Benjamin Franklin. Rue Adams hay Rue Lee thì không.

Qua đời ở quê hương

Năm 1785, Franklin được Quốc hội Lục địa cho hồi hương, sau khi giúp đàm phán hiệp ước chấm dứt Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Lúc này, Franklin 79 tuổi, sức khỏe suy yếu và không chắc có thể sống sót qua chuyến trở về Philadelphia.

Bạn bè Pháp tha thiết muốn ông ở lại. Họ yêu ông, và ông cũng yêu họ. Tuy nhiên, Franklin viết, dù người Pháp đáng mến, ông không thấy đó là nhà. Ông muốn chết ở quê hương mình.

Có lẽ đây là định nghĩa sâu sắc nhất về quê hương: quê hương không chỉ là nơi muốn sống, mà là nơi muốn trở về khi sắp khép lại cuộc đời.

Tháng 7/1785, Franklin rời Passy về Mỹ. Vì quá yếu để chịu chuyến xe ngựa gập ghềnh đến cảng Le Havre, ông nhận ân huệ cuối cùng từ nước Pháp: Hoàng hậu Marie Antoinette cho ông mượn kiệu cá nhân.

Di sản của nhà cách mạng già

Ngày nay, trên Rue Benjamin Franklin có bức tượng đồng. Franklin ngồi thẳng, tỉnh táo, môi thoáng nụ cười, như thể sắp kể câu chuyện dí dỏm; trông ông không quá trẻ, cũng không già nua theo nghĩa mệt mỏi.

Điều đáng nhớ ở Franklin không chỉ ở trí tuệ hay phát minh mà còn là cách ông già đi nhưng không cay đắng. Bệnh tật không làm ông mất cân bằng; tuổi tác không khiến ông thu mình. Ngược lại, ở Pháp, ông tìm thấy vai trò lớn cuối đời: nhà cách mạng biết mê hoặc người khác.

Ở tuổi 70, Franklin giúp thay đổi số phận nước Mỹ cùng thông điệp; đôi khi chương quan trọng nhất của đời người không đến sớm, mà xuất hiện lúc ta tưởng mọi đã khép lại.

shared via nytimes,

Wednesday, October 29, 2025

Dubai: Hồi ức về thời trước kỷ nguyên dầu mỏ


Khách sạn Chedi Al Bait ở trung tâm quận Sharjah

Di sản của “bờ biển ngọc trai”

Trước khi Abu Dhabi và Dubai rực rỡ ánh đèn và chọc trời bằng những tòa tháp kính, vùng đất ngày nay là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất từng tỏa sáng theo cách khác - bằng sắc lấp lánh của những viên ngọc trai. Trong suốt nhiều thế kỷ, ngư dân lặn xuống vùng Vịnh Ba Tư với những dụng cụ thô sơ: bao tay làm từ da lạc đà, kẹp mũi bằng xương cừu, bộ đồ vải sẫm màu chống cá mập. Họ lặn sâu từ 5 đến 10 mét, mò vỏ trai để tìm ngọc, và phải cần đến hàng nghìn con trai mới thu được mười viên ngọc quý.

Một buổi sáng thứ Bảy ấm áp đầu năm nay, tôi đứng trên con thuyền gỗ ngoài khơi Ras al Khaymah - tiểu vương quốc nằm cực bắc của bảy tiểu vương quốc hợp thành UAE. Trên nền trời xanh lam như sữa, dãy núi Hajar hiện lên mờ ảo phía xa. “Chào mừng đến với vùng đất từng được gọi là Bờ biển Ngọc trai,” hướng dẫn viên với chiếc khăn trắng tinh khôi nói khi thuyền cập bến phao gần làng Al Rams, nơi tọa lạc trang trại Suwaidi Pearl Farm. Ông cẩn thận mở con hàu bằng kéo chuyên dụng, rồi khẽ dùng dao nhọn tách lớp vỏ. Khi viên ngọc trai màu trắng sữa được lấy ra, tất cả mọi người trên thuyền đều trầm trồ.

Tôi đến đây để tìm chút yên bình, tách khỏi nhịp sống náo nhiệt và sự xa hoa gần như choáng ngợp của Dubai. Trong những lần ghé thăm trước, tôi thường tự hỏi đất nước này từng ra sao trước khi cơn “đại hồng thủy” của dầu mỏ và nhập cư ập đến, làm thay đổi tất cả. Câu trả lời từ mọi người đều giống nhau: “Hãy đến những tiểu vương quốc khác.”

Vậy là tôi quyết định dành một tuần khám phá bốn vùng đất ít được biết đến hơn: Sharjah, Ajman, Al Fujayrah và Ras al Khaymah.

Những viên ngọc trai như thế này là một trong những sản phẩm quan trọng nhất của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất trước khi dầu mỏ được phát hiện ở đó vào năm 1958

Sharjah - Hơi thở của sự nguyên bản

Sharjah từ lâu là điểm đến quen thuộc với giới doanh nhân, nhưng chỉ mới gần đây nơi đây mới dần xuất hiện trên bản đồ du lịch. Lượng khách đến Dubai năm ngoái tăng 9% so với năm trước, và sắp tới, UAE cùng sáu quốc gia vùng Vịnh khác như Qatar, Oman hay Ả Rập Xê Út sẽ gia nhập khu vực du lịch chung GCC Grand Tours Visa - tương tự khu Schengen ở châu Âu, cho phép du khách di chuyển chỉ với một loại thị thực.

Rời sân bay Dubai trong đêm rực sáng đèn neon lúc 2 giờ sáng, tôi bắt taxi đến Sharjah cách khoảng 40 phút. Tài xế, người gốc Ấn sinh ở Uganda và từng sống tại Anh, tỏ ra ngạc nhiên: “Sharjah à? Ít du khách nước ngoài đến đó lắm.” Ông nói đúng phần nào: Sharjah là tiểu vương quốc duy nhất cấm hoàn toàn đồ uống có cồn, điều này khiến nơi đây giữ được nét truyền thống.

Tại khách sạn Chedi Al Bait, người phục vụ Syria thân thiện dẫn tôi qua những con hẻm nhỏ lát gạch đất, qua các riad (nhà có sân trong) trồng đầy cọ. Không khí đêm tĩnh lặng phảng phất mùi muối biển, khói củi và trái cây chín. Ngay cả trong bóng tối, Sharjah mang cảm giác “thật” mà Dubai khó có được.

Sáng hôm sau, tôi dạo quanh khu “Trái tim Sharjah” - trung tâm của dự án bảo tồn di sản. Ánh sáng ban mai soi rõ những tòa nhà tường san hô cổ xen lẫn các cửa hàng hiện đại ven con lạch từng là bến cảng sầm uất. Từ xa xưa, cư dân nơi đây sống nhờ đánh cá, buôn bán và lặn ngọc. Nhưng đầu thế kỷ XX, khi ngọc trai nhân tạo của Nhật Bản ra đời, ngành này sụp đổ, khiến các tiểu vương quốc lâm vào cảnh nghèo khó cho đến khi dầu được phát hiện năm 1958. Từ dân số chỉ 92.000 người năm 1960, UAE ngày nay có gần 11,5 triệu dân và là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới.

Dưới sự trị vì của Tiểu vương Sultan bin Muhammad al-Qasimi từ năm 1999, Sharjah lấy văn hóa, nghệ thuật và giáo dục làm trọng tâm phát triển. Điều đó thể hiện rõ qua hệ thống bảo tàng đồ sộ. Bảo tàng Văn minh Hồi giáo Sharjah, khánh thành năm 2008, nổi bật với mái vòm vàng trên bờ sông, trưng bày hàng nghìn hiện vật về đức tin, lịch sử, nghệ thuật, khoa học và phát minh. Tôi dừng lại lâu bên bản đồ thế giới Hồi giáo, trải rộng từ Senegal tới New Guinea, bao gồm gần 1,9 tỷ người - cộng đồng đang tăng trưởng nhanh, vượt qua cả châu Âu và châu Mỹ về dân số và quy mô kinh tế.

Trước khi ghé Bảo tàng Di sản - đặt trong ngôi nhà cũ của một thương nhân ngọc trai - tôi dừng chân tại quán Arabian Tea House bên rìa khu chợ. Giữa trưa, quán chật kín, tôi định quay đi thì một người đàn ông Pakistan mỉm cười mời tôi ngồi cùng. Anh là kỹ sư xây dựng học ở Georgia Tech, nay làm việc tại Dubai. “UAE giống như nước Mỹ năm 1900,” anh nói. “Một miền đất hứa, nơi người từ những quốc gia nghèo có thể đến và tạo dựng cuộc sống mới.”

Bữa trưa của chúng tôi là cơm basmati vàng rực với thịt cừu mềm, thơm mùi quế, thảo quả và đinh hương. Khi tôi hỏi tính tiền, người bạn mới lặng lẽ trả trước. Cử chỉ nhỏ ấy phản chiếu tinh thần hiếu khách mà tôi gặp ở khắp nơi trong UAE.

Bảo tàng Văn minh Hồi giáo Sharjah

Ajman - Tiểu vương quốc “dễ chịu nhất”

Vài người bạn ở Dubai khuyên tôi nên đến Ajman - tiểu vương quốc nhỏ nhất nhưng được ví như “Malibu của vùng Vịnh.” Nằm ngay phía bắc Sharjah, Ajman là nơi dân địa phương chọn nghỉ cuối tuần. “Đó là tiểu vương quốc dễ chịu nhất,” một người nói. “Khách sạn tốt, nhà hàng hay, bãi biển đẹp - đủ để tận hưởng kỳ nghỉ.”

Khi bước vào sảnh khách sạn Fairmont Ajman, tôi được mời trà kèm chà là. Không khí nhộn nhịp và khách đủ mọi quốc tịch. Mùa đông là thời điểm người châu Âu - đặc biệt từ Nga và Trung Á đổ về vùng Vịnh để trốn rét, tắm nắng và khám phá sa mạc. Bữa sáng ở khách sạn phản ánh điều đó: bánh manakish phủ zaatar của Ả Rập nằm cạnh món cháo kasha kiểu Slav.

Dọc bờ biển dài hơn bốn cây số, nhiều máy nạo vét đang hoạt động - dự án mở rộng bãi biển do công ty xây dựng Trung Quốc thực hiện. Du lịch ở Ajman đang bùng nổ. Trong lúc ăn trưa pizza, tôi làm quen với một gia đình Ý bốn người, họ mời tôi đi xem đua lạc đà tại trường đua Al Tallah. Ở đó, những chú lạc đà không người cưỡi, khoác chăn màu sặc sỡ, phi nước đại trong tiếng reo hò, còn chủ của chúng lái xe 4x4 song song bên ngoài hàng rào. Cả nhóm chúng tôi vừa cười vừa ăn thịt nướng và uống nước me chua dịu - trải nghiệm khó quên, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.

Khách sạn Fairmont ở Ajman

Al Fujayrah và Ras al Khaymah - Giữa núi non và biển ngọc

Xa nhất về phía đông bắc, hai tiểu vương quốc Al Fujayrah và Ras al Khaymah nằm giữa Vịnh Ba Tư và Vịnh Oman, chiếm trọn dải bán đảo gồ ghề. Mỗi nơi mang một bản sắc riêng, phản chiếu sự tương phản đầy hấp dẫn trong cấu trúc quốc gia này.

Tại Al Fujayrah, tôi ghé thăm nhà thờ Hồi giáo Al Bidyah - công trình trắng nhỏ với bốn mái vòm, được xây từ năm 1446, cổ nhất trong toàn liên bang. Nơi đây thật khiêm nhường nếu so với Đại thánh đường Sheikh Zayed tráng lệ gần trung tâm thành phố, nơi có thể chứa hơn 7.000 tín đồ. Hướng dẫn viên người Ukraine - Inga Kampii giải thích: “Khác với các tiểu vương quốc khép kín ở Vịnh Ba Tư, Al Fujayrah từ lâu là điểm trung chuyển thương mại nối Oman với bờ Đông Phi. Chính điều đó tạo nên tính cách cởi mở và đa văn hóa của nơi này.” Chúng tôi trò chuyện trong bữa trưa ở một nhà hàng Thái, giữa khung cảnh biển xanh và gió lộng.

Băng qua sườn núi đến Ras al Khaymah, tôi nhận ra tiểu vương quốc này đang nỗ lực đầu tư mạnh vào văn hóa. Dưới sự lãnh đạo của Sheikh Saud bin Saqr Al Qasimi, chính quyền khôi phục làng di sản Al Jazeera Al Hamra - cộng đồng lặn ngọc xưa, thành lập Bảo tàng Quốc gia trưng bày di vật khảo cổ, và mở rộng trang trại ngọc trai Suwaidi mà tôi từng ghé - dự án khởi nguồn từ năm 2004 bởi cháu trai của thợ lặn.

Không chỉ có di sản, Ras al Khaymah còn nổi tiếng với cảnh quan ngoạn mục. Giữa dãy núi sẫm màu là đường zip-line Jebel Jais dài 2,83 km - một trong những đường trượt dài nhất thế giới. Dù không đủ can đảm tham gia, tôi vẫn bị mê hoặc bởi khung cảnh hùng vĩ ấy và thầm hứa sẽ quay lại để thử thách bản thân.

Chiều muộn, trở lại biệt thự trên mặt nước của khách sạn Anantara Mina Ras Al Khaimah, tôi nhìn đàn hồng hạc hồng nhạt thong thả rảo bước trong đầm lầy ngập mặn. Phía xa, những tòa cao ốc phản chiếu ánh hoàng hôn, đối lập mà hài hòa với sắc nâu đất và xanh núi. Cảnh tượng ấy như gói gọn linh hồn của UAE - hiện đại mà truyền thống, bảo thủ nhưng cởi mở, xa hoa song vẫn tinh tế. Như viên ngọc không thể tách khỏi con trai, sự trù phú hôm nay cũng được hình thành từ lao động, ký ức và niềm kiêu hãnh của quá khứ.

shared via nytimes, 

Những toa tàu triệu USD và sự trở lại của du lịch đường sắt xa xỉ

Tàu Missouri River Runner của Amtrak khởi hành từ St. Louis với ba toa xe tư nhân được nối ở phía đuôi. Những toa xe này thường được gọi là ...