Search This Blog

Thursday, July 23, 2026

Ba mặt trận quyền lực của Trung Quốc toàn cầu


Khi Mỹ thu mình khỏi nhiều định chế đa phương, gây chiến kinh tế với đồng minh và sa lầy trong các cuộc đối đầu quân sự, câu hỏi về vai trò của Trung Quốc trong trật tự thế giới trở nên cấp bách hơn. Bắc Kinh không chỉ vươn lên bằng nhà máy, xuất khẩu hay đầu tư hạ tầng. Quyền lực Trung Quốc mở rộng trên ba mặt trận cùng lúc: kinh tế chính trị, chuẩn mực quản trị toàn cầu và sản xuất tri thức. Câu hỏi lớn là liệu sự trỗi dậy mở ra con đường phát triển công bằng hơn cho Nam bán cầu, hay chỉ tạo ra dạng phụ thuộc mới dưới màu xanh của chuyển đổi năng lượng.

Cường quốc sản xuất bước ra thế giới

Trung Quốc củng cố vị trí siêu cường sản xuất thế giới. Nền kinh tế nước này tiếp tục tăng trưởng, tiến gần ngưỡng được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm thu nhập cao. GDP Trung Quốc chiếm khoảng 20% tổng GDP toàn cầu; năm ngoái, nước này tạo ra gần 30% giá trị gia tăng sản xuất của thế giới. Thặng dư thương mại đã lên tới 1.000 tỷ USD. Sức mạnh không chỉ nằm trong biên giới Trung Quốc. Năm 2013, sáng kiến Vành đai và Con đường, chính thức ra đời, chi lũy kế khoảng 1.400 tỷ USD tại 150 quốc gia, chủ yếu cho hạ tầng ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Từ năm 2022, Bắc Kinh bước vào giai đoạn mới: xuất khẩu công nghệ xanh, mở rộng năng lượng tái tạo và đưa sản xuất sạch thành công cụ phát triển đối ngoại. Năm 2024, đầu tư trong nước của Trung Quốc vào sản xuất xanh đạt 340 tỷ USD. Từ năm 2011, doanh nghiệp Trung Quốc cam kết hơn 227 tỷ USD cho 461 dự án sản xuất xanh tại 54 quốc gia, trong đó 88% diễn ra chỉ từ năm 2022. Một số nhà phân tích gọi đây là Vành đai và Con đường 2.0. Tuy nhiên, đánh giá “Trung Quốc toàn cầu” chỉ bằng lượng vốn đầu tư là chưa đủ. Bắc Kinh không chỉ đưa tiền, đường sắt, cảng biển, pin mặt trời hay xe điện ra thế giới. Trung Quốc còn đưa ra cách hiểu khác về phát triển, chủ quyền, nhân quyền, an ninh mạng và tri thức toàn cầu.

Chuyển đổi xanh và cơ hội của Nam bán cầu

Trung Quốc hiện là người chơi lớn nhất trong chuyển đổi năng lượng tái tạo. Nền kinh tế trong nước ngày càng được dẫn dắt bởi năng lượng sạch, khiến Trung Quốc trở thành “điện quốc” đầu tiên ở quy mô lớn. Đồng thời, nước này là nhà sản xuất và xuất khẩu công nghệ sạch chủ đạo sang châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh. Ở nhiều nước đang phát triển, giới tinh hoa chính sách hình dung lại chiến lược phát triển quanh lưới điện, pin mặt trời, pin lưu trữ và xe điện do Trung Quốc sản xuất. Cách nhìn phương Tây thường nhấn mạnh nhu cầu của chính Bắc Kinh: xuất khẩu công suất dư thừa, tìm thị trường mới, kiểm soát khoáng sản chiến lược. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Các chính phủ Nam bán cầu cũng có nhu cầu phát triển rất thật: điện rẻ hơn, công nghiệp hóa, di chuyển xanh và tiêu dùng hiện đại cho người dân. Với họ, chuyển đổi xanh không chỉ là chính sách khí hậu. Đây là cơ hội để thoát khỏi vai trò xuất khẩu nguyên liệu thô. Sau nhiều thập niên tư nhân hóa, suy giảm năng lực nhà nước và phụ thuộc vào khai thác sơ cấp, nhiều nước muốn đi xa hơn: không chỉ đào nickel, lithium hay đồng, mà còn chế biến, sản xuất linh kiện, rồi tiến tới hàng hóa xanh cuối cùng.

Indonesia là ví dụ nổi bật. Năm 2020, Tổng thống Joko Widodo cấm xuất khẩu nickel chưa qua chế biến, nhằm buộc đầu tư vào công đoạn sau. Brazil, dưới Đảng Lao động, đưa chính sách công nghiệp hóa lithium vào chương trình Nova Indústria Brasil năm 2024. Zambia, trong cơn sốt khoáng sản chiến lược toàn cầu, kỳ vọng chính phủ châu Phi sẽ có vị thế đàm phán mạnh hơn với nhà đầu tư. Song kết quả không tự động tích cực. Nếu các nước chỉ cạnh tranh bằng miễn thuế, đất rẻ và luật lao động dễ dãi, mà không buộc nhà đầu tư nội địa hóa sản xuất hay chuyển giao công nghệ, chuyển đổi xanh sẽ đem lại rất ít phát triển thực chất.

Trung Quốc: đối tác hay đối thủ?

Trung Quốc bước vào cuộc chơi với vị thế vừa hấp dẫn vừa mâu thuẫn. Nhiều quan chức ở Zambia, Brazil và Indonesia ngưỡng mộ thành tích của Bắc Kinh: tăng trưởng cao, giảm nghèo, năng lực quản trị, công nghiệp hóa và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc còn bán gói giải pháp trọn vẹn: từ ý tưởng, vốn, thiết kế đến xây dựng hạ tầng. Điều này hấp dẫn hơn mô hình viện trợ phương Tây, vốn thường mang quan hệ nhà tài trợ - người nhận viện trợ đầy tính giáo huấn. Tuy vậy, Trung Quốc cũng có mục tiêu riêng. Giống giai đoạn đầu của Vành đai và Con đường, nước này cần xuất khẩu năng lực dư thừa, bảo đảm nguồn khoáng sản chiến lược và mở rộng thị trường địa phương lẫn khu vực. Trong sản xuất năng lượng tái tạo, Bắc Kinh cũng muốn tích hợp dọc chuỗi giá trị, cả trong và ngoài lãnh thổ.

Vậy nên, Trung Quốc có thể là đối tác phát triển, nhưng cũng có thể trở thành đối thủ với các nước Nam bán cầu muốn xây chuỗi cung ứng xanh của riêng mình. Câu hỏi quyết định là liệu các nước tiếp nhận đầu tư có đủ năng lực áp đặt yêu cầu nội địa hóa, bảo vệ lao động và giành chuyển giao công nghệ hay không. Các bằng chứng ban đầu không đồng nhất. Một số nghiên cứu cho thấy đầu tư Trung Quốc, nhất là vốn nhà nước, có thể linh hoạt trước yêu cầu địa phương hơn nhiều dòng vốn phương Tây, vì “lợi nhuận” của Bắc Kinh không chỉ là tài chính, mà còn gồm quyền tiếp cận khoáng sản và ảnh hưởng chính trị. Song, trên thực tế, các liên minh lợi ích nội địa có thể làm lệch kết quả. Ở Indonesia, một số nhà nghiên cứu cho rằng nhóm tài phiệt hưởng lợi từ bùng nổ nickel do Trung Quốc dẫn dắt không mặn mà với việc siết chuẩn môi trường, xã hội và quản trị. Lao động là phép thử khác. Tại Morowali Industrial Park ở Indonesia, trung tâm của chiến lược chế biến nickel có vốn Trung Quốc lớn, nhiều báo cáo nêu tình trạng tai nạn chết người, suy giảm điều kiện lao động và bất ổn. Ở bang Bahia của Brazil, Bộ Lao động từng nêu điều kiện “tương tự nô lệ” tại công trường nhà máy xe điện BYD, trong khi công ty bị cáo buộc yêu cầu công nhân ký thư phản đối công đoàn ngành ô tô Brazil. Nếu công nhân không có thêm quyền mặc cả, lời nói về hợp tác Nam - Nam và phát triển đôi bên cùng có lợi sẽ rất mỏng.

Cuộc chiến chuẩn mực toàn cầu

Quyền lực Trung Quốc không chỉ nằm ở nhà máy và vốn. Bắc Kinh còn cố thay đổi luật chơi trong quản trị toàn cầu. Năm 1955, từ Hội nghị Á - Phi Bandung, Trung Quốc tự đặt mình trong truyền thống chống đế quốc và chống bá quyền. Nay, với sức nặng kinh tế mới, nước này có khả năng thực sự tác động đến các định chế quốc tế. Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tức IMF, Trung Quốc từ người chấp nhận luật chơi trở thành người làm rung chuyển luật chơi, rồi từng bước tạo luật mới. Bắc Kinh ủng hộ yêu cầu lâu dài của các nước đang phát triển về đại diện lớn hơn trong IMF, đa dạng hóa rổ tiền tệ của Quyền rút vốn đặc biệt và mở rộng phương thức trả nợ bằng hàng hóa, tài nguyên hoặc năng lượng.

Cạnh tranh từ các định chế tài chính Trung Quốc cũng buộc Ngân hàng Thế giới rút ngắn thời gian phê duyệt dự án và quay lại đầu tư hạ tầng nhiều hơn. Ngoài hệ thống Bretton Woods, Trung Quốc tham gia lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á và Ngân hàng Phát triển Mới của BRICS, nơi chuẩn môi trường, xã hội và quản trị mang tính quốc gia hơn là áp đặt từ bên ngoài. Trong quản trị mạng, Trung Quốc thúc đẩy khái niệm “chủ quyền mạng”: mỗi nhà nước có quyền quyết định con đường phát triển kỹ thuật số, quy định internet và chính sách dữ liệu không chịu can thiệp bên ngoài. Quan điểm hấp dẫn với nhiều chính phủ Nam bán cầu, vốn lo ngại “chủ nghĩa thực dân dữ liệu” như dạng khai thác mới. Thông qua Con đường Tơ lụa Kỹ thuật số, hiện liên quan đến khoảng 80 quốc gia, Bắc Kinh quảng bá chuẩn kỹ thuật và mô hình quản trị mạng. Tại Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc cũng đẩy cách hiểu khác về trật tự quốc tế: ưu tiên chủ quyền quốc gia, vai trò trung tâm của nhà nước, phát triển dựa trên tăng trưởng và nhân quyền mang tính tương đối, trong đó quyền phát triển kinh tế tập thể được đặt cạnh, thậm chí nhiều lúc phía trên, quyền dân sự và chính trị cá nhân.

Đây là thách thức trực tiếp với mô hình tự do phương Tây. Tuy nhiên, không thể xem nó đơn giản là tiến bộ. Sáng kiến An ninh Toàn cầu của Trung Quốc, mở rộng hợp tác cảnh sát và thực thi pháp luật với các nước Nam bán cầu. Với nhiều người, mô hình an ninh khó có thể được xem là cải thiện so với trật tự do Mỹ dẫn dắt.

Ai viết tri thức về phát triển?

Mặt trận thứ ba là tri thức. Trung Quốc xây hệ sinh thái nghiên cứu về thế giới, phát triển và Nam bán cầu. Từ năm 2011, dự án “viết về thế giới” của Bắc Kinh thúc đẩy lập khoảng 450 chương trình nghiên cứu khu vực tại gần 200 đại học, với 20.000 giảng viên nhằm phát triển và giảng dạy cách hiểu của Trung Quốc về thế giới. Các viện như Viện Hợp tác và Phát triển Nam - Nam tại Đại học Bắc Kinh hay Trung tâm Tri thức Quốc tế về Phát triển thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc đóng vai trò sản xuất “tri thức Trung Quốc” cho các vấn đề phát triển toàn cầu. Các chương trình đào tạo cũng mở rộng mạnh. Từ năm 1981 – 2009, Bắc Kinh tiếp nhận 120.000 học viên từ Nam bán cầu trong 4.000 chương trình. Giai đoạn 2013 – 2018, con số tăng lên hơn 200.000 học viên trong khoảng 7.000 chương trình. Nội dung rất rộng: nước sạch, cảng biển, định vị Bắc Đẩu, blockchain, an ninh thông tin, đô thị thông minh, quản lý dân số, chính sách dân tộc, truyền thông mới và vai trò think tank trong Vành đai và Con đường. Dù chủ đề nào, mô hình quản trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc thường được trình bày như nguồn gốc của hiệu quả.

Điều này thách thức trật tự tri thức lâu nay do phương Tây nắm giữ. Tuy nhiên, câu hỏi học thuật vẫn rất cơ bản: các khái niệm có chặt chẽ không, bằng chứng có đủ không, phương pháp có nghiêm túc không? Việc gọi Vành đai và Con đường là “toàn cầu hóa bao trùm” hay “ngoại giao hài hòa” không tự nó chứng minh rằng đây là trật tự hậu thuộc địa công bằng hơn.

Bá quyền hậu thuộc địa hay phụ thuộc mới?

Ba mặt trận của Trung Quốc: vật chất, chuẩn mực và tri thức – tương ứng với dự án bá quyền theo nghĩa rộng: không chỉ thống trị bằng lợi ích kinh tế, mà còn bằng lãnh đạo đạo đức và trí tuệ. Điểm đáng chú ý là dự án không diễn ra trên đầu Nam bán cầu, mà có sự tham gia tích cực của nhiều chính phủ, học giả và tầng lớp tinh hoa Nam bán cầu. Tuy nhiên, xuất thân từ Nam bán cầu không bảo đảm chống lại chủ nghĩa thực dân mới. Ấn Độ ở Kashmir, Nga ở Ukraine, Trung Quốc ở Tân Cương và Hồng Kông đều cho thấy ngôn ngữ chống đế quốc hoặc ký ức từng là nạn nhân không loại trừ khả năng tạo ra phụ thuộc và áp bức mới.

Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào dòng vốn, lời hứa của chính trị gia hay số dự án hạ tầng. Cần đo kết quả phát triển từ kinh nghiệm của những cộng đồng đang sống trong các thay đổi ấy: công nhân có thêm quyền không, môi trường có được bảo vệ không, công nghệ có được chuyển giao không, nhà nước có tăng năng lực đàm phán không, và người dân có hưởng lợi nhiều hơn nhóm tinh hoa hay không. Trung Quốc toàn cầu có thể giúp Nam bán cầu giành thêm không gian trong trật tự vốn thiên lệch về phương Tây. Tuy nhiên, cũng có thể nó chỉ thay trung tâm quyền lực bằng trung tâm khác. Câu trả lời sẽ không nằm trong khẩu hiệu “cùng thắng”, mà trong nhà máy nickel, hợp đồng lithium, tiêu chuẩn mạng, lớp đào tạo cán bộ và lá phiếu của người lao động.

shared via phenomenalworld,

World Cup trên sân và điều màn hình không thể kể hết


Đến lúc này, hẳn nhiều người đã xem những hình ảnh đẹp nhất của World Cup 2026: Lionel Messi phá kỷ lục ghi bàn mọi thời đại, Erling Haaland dẫn cổ động viên Na Uy hát vang, Messi được đồng đội tung lên không trung, biển người tràn ra đường phố Mexico City, hay thủ môn Vozinha của Cape Verde liên tục cản phá Messi trước khi cuối cùng vẫn bị anh khuất phục.

World Cup năm nay có cuộn phim riêng, khác hoàn toàn những đoạn tổng hợp trên mạng. Lần đầu tiên trong đời, tôi đi xem World Cup trực tiếp. Không chỉ một trận, mà nhiều trận: từ Dallas, nơi chứng kiến hiện tượng Messi ngoài đời thực; đến Kansas City, nơi tôi uống Fernet pha Coca trong cốc nhựa đỏ; nhiều lần tới New Jersey. Tôi đi qua cái nóng, đám đông, hàng chờ, mồ hôi và tất cả những phần vụn vặt mà màn hình thường cắt bỏ.

Bóng đá vốn là môn thể thao hoàn hảo cho màn hình. Sân cỏ phẳng, xanh, đẹp, có hình học rõ ràng. Trận đấu vừa đủ gọn để theo dõi trên laptop, điện thoại, màn hình máy bay hay màn hình khổng lồ. Người xem có thể chăm chú vào từng đường bóng, hoặc để trận đấu chạy nền như bể cá.

Nhưng khi có mặt tại sân, người ta không chỉ thấy trận đấu. Người ta thấy cả thế giới bao quanh trận đấu.

Bên ngoài “vòng tròn ma thuật”

Trên màn hình, bóng đá được đóng khung rất đẹp. Mỗi trận là một thế giới riêng, nơi mọi hành động đều được nén lại và mang ý nghĩa lớn hơn bình thường. Trong vài giờ, người xem bước vào “vòng tròn ma thuật” của hồi hộp, sợ hãi, phấn khích và nhẹ nhõm.

Ở sân vận động, vòng tròn ấy vẫn tồn tại, nhưng xung quanh nó là vô số thứ đời thường. Trước trận, tôi lang thang trong những hành lang rối như mê cung dưới sân, nơi có đường ống công nghiệp, tháp hàng tiếp tế, đá lạnh, cốc nhựa, bánh mì xúc xích, phòng giặt khổng lồ và các cựu danh thủ mặc đẹp để lên truyền hình. Trên sân, vòi phun nước tưới cỏ trước giờ bóng lăn và trong giờ nghỉ. “Nghỉ uống nước” không chỉ dành cho cầu thủ; cả mặt cỏ cũng cần được chăm sóc.

Những chi tiết ấy khiến trận đấu trở nên thật hơn. World Cup không chỉ tốn tiền, mà còn tốn thời gian, sức lực, sự kiên nhẫn và cảm xúc. Cổ động viên trả tiền vé, nhưng cũng trả bằng nắng cháy, mệt mỏi, buồn chán và những hàng chờ bất tận.

Tây Ban Nha và chiến thắng của sự tỉnh táo

Từ World Cup 2026, điều nở ra rõ nhất là nhà vô địch Tây Ban Nha. Họ gần như là đội bóng hoàn hảo: vị tha, kỹ thuật, hiệu quả, phối hợp nhịp nhàng. Tây Ban Nha không quá phô trương, không kịch tính quá mức. Họ chỉ lặng lẽ kiểm soát đối thủ cho đến khi trận đấu thuộc về mình.

Điều này khiến chức vô địch của Tây Ban Nha trở nên đặc biệt trong kỳ World Cup bị bao phủ bởi thương mại. Trận chung kết đôi lúc giống sân khấu quảng cáo và trình diễn người nổi tiếng hơn là sự kiện thể thao. Cúp được đưa ra sân trong chiếc rương Louis Vuitton đặt riêng. Những màn xuất hiện, phát biểu và thông báo liên tiếp khiến trận đấu bị phủ bởi lớp hào nhoáng của tiền bạc.

Bản thân trận chung kết lại xấu xí. Argentina chơi tệ, thô bạo và Messi, nhân vật chính của bóng đá toàn cầu, không thể tạo ra điều kỳ diệu. Hành trình anh hùng của anh khép lại.

Người giành Quả bóng vàng là Rodri, tiền vệ Tây Ban Nha gần như đối lập với mọi kiểu siêu sao thời đại mạng xã hội. Anh không màu mè, không tạo meme, không thống trị bằng những khoảnh khắc dễ cắt thành video ngắn. Công việc của Rodri là giữ bóng, kiểm soát nhịp, tạo ra góc chuyền dẫn tới góc chuyền khác, để rồi người khác có pha bóng nổi bật. Messi ghi 8 bàn, kiến tạo 4; Mbappé ghi 10 bàn, kiến tạo 4. Rodri không ghi bàn, không kiến tạo, nhưng vẫn thắng.

Chiến thắng ấy giống lời phản biện âm thầm trước thế giới ồn ào. Chiến thắng của chất lượng, sự tỉnh táo, tính chuyên nghiệp và tinh thần tập thể.

Khi lịch sử trở thành ký ức riêng

Điều quan trọng nhất khi xem World Cup trực tiếp vẫn là con người. Trên màn hình, người xem thấy đám đông, nhưng đó là “người điểm ảnh”. Ngoài đời, đó là biển người thật, với mọi trạng thái cảm xúc có thể có: vui sướng, cáu kỉnh, lo âu, giận dữ, buồn bã, phấn khích.

Sau chung kết, khi pháo giấy vàng còn chưa rơi hết, cảm giác trống rỗng đã xuất hiện. World Cup kết thúc, Messi khóc, trẻ em mặc áo Messi khóc, người lớn mặc áo Messi cũng khóc. Trên màn hình lớn là khuôn mặt Messi rơi nước mắt, xung quanh là vô số cổ động viên Argentina hóa thân thành Messi và cũng rơi nước mắt.

Ở lối ra sân, tôi dừng lại. Bên kia cửa xoay là đời sống bình thường, thời gian bình thường. Tôi quay lại nhìn sân lần cuối, thấy cổ động viên Tây Ban Nha và Argentina đổi cờ cho nhau. Tôi rời đi.

Ngoài bãi xe, một người đàn ông Argentina đang bóc hình Messi và Maradona khỏi chiếc xe thuê. Suốt 41 ngày, ông cùng bạn bè đã lái hơn 12.000 km khắp nước Mỹ để xem mọi trận của Argentina. Ông buồn vì trận chung kết, nhưng không buồn vì hành trình kết thúc. Ba mươi năm nữa, khi đã ngoài 80 tuổi, ông sẽ nhớ lại chuyến đi này và tự nhủ, bản thân đã làm điều này.

Đây có lẽ là phần màn hình không thể truyền lại trọn vẹn. World Cup không chỉ là những khoảnh khắc lớn của bóng đá. Với người đã có mặt ở đó, World Cup trở thành một mảnh trong lịch sử cá nhân.

shared via nytimes,

Tuesday, July 21, 2026

Khi mua game không còn đồng nghĩa với sở hữu game



Từ năm 2027, Sony quyết định ngừng phát hành đĩa game vật lý không chỉ là bước đi trong quá trình số hóa ngành game; mà còn chạm vào câu hỏi lớn hơn: người tiêu dùng còn sở hữu gì trong nền kinh tế số, khi mọi thứ biến thành giấy phép truy cập do các nền tảng độc quyền kiểm soát? Từ PlayStation, Xbox đến Kindle, xe Mercedes hay máy kéo John Deere, quyền sở hữu bị thu hẹp bằng phần mềm, bản quyền và quyền lực thị trường.

Cơn giận của game thủ

Sony thông báo từ năm 2027 sẽ không còn sản xuất bản game vật lý. Người chơi muốn mua game sẽ phải mua hoàn toàn qua cửa hàng trực tuyến của Sony, nơi nền tảng thu 30% phí. Với nhiều người, đây có vẻ chỉ là quyết định kinh doanh tất yếu. Khoảng 85% game hiện được mua dưới dạng số. Trong mắt thế hệ mới, đĩa game có vẻ giống di vật. Tuy nhiên, phản ứng của cộng đồng game thủ dữ dội hơn dự đoán. Mạng xã hội tràn ngập chỉ trích. Các nhà thiết kế game gọi quyết định này là đáng sợ. Nhà bán lẻ thất vọng. Cựu Chủ tịch PlayStation Shawn Layden cũng không hài lòng. Kiến nghị trực tuyến thu hút khoảng 1/3 triệu chữ ký.

Lý do không chỉ nằm ở nỗi hoài cổ với chiếc đĩa. Đĩa game là tài sản có thể cầm, cho mượn, bán lại, tặng, sưu tầm hoặc truyền cho người khác. Một mã tải xuống chỉ là giấy phép truy cập. Người mua không thật sự sở hữu trò chơi; họ thuê quyền tiếp cận, và quyền này có thể bị thay đổi hoặc thu hồi. Người tiêu dùng từng chứng kiến phim đã mua bị xóa khỏi thư viện số, game bị rút khỏi cửa hàng chỉ vài tuần sau khi phát hành.

Khi thị trường đồ cũ biến mất

Việc bỏ đĩa vật lý cũng xóa thị trường thứ cấp quan trọng. Game đã qua sử dụng từng là cách người chơi tiết kiệm tiền, trao đổi với nhau và tạo áp lực cạnh tranh lên nhà sản xuất. Khi mọi giao dịch đi qua cửa hàng số duy nhất, nền tảng kiểm soát giá, phân phối và quyền tiếp cận. Đây là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng vì ngành game ngày càng tích hợp dọc. Sony và Microsoft không chỉ bán máy chơi game. Họ mua studio, vận hành dịch vụ thuê bao, kiểm soát cửa hàng số và quyết định game nào xuất hiện trên nền tảng. Với người chơi PC, Valve và Steam cũng giữ vị trí cổng vào gần như không thể tránh.

Kết quả là giá tăng và lựa chọn giảm. Sau khi Microsoft mua Activision năm 2023, bất chấp phản đối của Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ, tức FTC, giá dịch vụ Game Pass của Xbox tăng gấp đôi. Sau đó, Microsoft sa thải nhân viên hàng loạt, tăng giá, rồi tiếp tục sa thải. Một số game được chuyển thành độc quyền Xbox, dù công ty từng nói trước tòa rằng mình sẽ không làm như vậy. Từ góc nhìn studio, vấn đề cũng không kém phần nặng nề. Muốn đưa game đến người chơi, nhà phát triển ngày càng phải đi qua kho ứng dụng, dịch vụ thuê bao hoặc nền tảng phân phối của số ít người gác cổng. Khi Sony giết kênh vật lý, ngành game tiến thêm một bước tới mô hình mà mọi con đường đều phải qua nền tảng.

Không chỉ là chuyện game

Sony không phải trường hợp đơn lẻ. Amazon từng nói người dùng Kindle đời cũ sẽ không thể mua sách mới. Mercedes yêu cầu chủ xe trả thêm 1.200 USD để mở phần mềm tăng tốc. Echelon vô hiệu hóa tính năng trên xe đạp tập để ngăn người dùng truy cập ứng dụng bên thứ ba. Apple từng bị cáo buộc xóa nhạc không mua qua iTunes khỏi thiết bị. Nông dân không thể tự sửa máy kéo John Deere bằng phần mềm. Ngay cả quân đội Mỹ cũng gặp khó trong sửa chữa thiết bị vì bị nhà thầu hạn chế. Điểm chung là sản phẩm sau khi bán vẫn bị nhà sản xuất kiểm soát bằng mã phần mềm, giấy phép và hợp đồng sử dụng. Người mua trả tiền như chủ sở hữu, nhưng quyền thực tế giống người thuê. Họ không được sửa, không được mở khóa, không được chuyển nhượng hoặc không được dùng sản phẩm ngoài điều kiện nền tảng đặt ra. Trong nền kinh tế số, quyền sở hữu đang bị thay bằng quyền truy cập có điều kiện.

Cuộc rào đất lần thứ hai

Năm 2003, giáo sư luật James Boyle gọi quá trình này là “phong trào rào đất lần thứ hai”. Ông so sánh nó với cuộc rào đất ở Anh từ thế kỷ 16 – 19, khi quý tộc chiếm các vùng đất chung mà dân làng dùng để chăn thả, lấy nước, đánh cá và kiếm củi. Việc ấy bạo lực nhưng hợp pháp; từ năm 1604 – 1914, Quốc hội Anh hậu thuẫn bằng hơn 5.000 đạo luật, rào lại hơn một phần năm đất canh tác của nước Anh. Lần rào đất mới không diễn ra trên đồng cỏ, mà trong không gian tri thức và phần mềm. Từ thập niên 1980, quyền sở hữu trí tuệ mở rộng lên những thứ từng thuộc về tài sản chung: bộ gen người, hạt giống, phần mềm, dữ liệu và nội dung số. Đạo luật Bản quyền Thiên niên kỷ Kỹ thuật số năm 1998, tức DMCA, kéo dài và củng cố mạnh mẽ các biện pháp kiểm soát bản quyền.

Lý lẽ biện minh cũng quen thuộc. Trước đây, rào đất được nói là cần thiết để thúc đẩy đầu tư và năng suất nông nghiệp. Ngày nay, độc quyền nền tảng và bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh được nói là cần thiết để khuyến khích đổi mới. Các tập đoàn công nghệ lớn, theo lập luận này, tái đầu tư lợi nhuận khổng lồ vào nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên lịch sử internet, phần mềm nguồn mở và nhiều nền tảng mở cho thấy sáng tạo không nhất thiết cần độc quyền. Nhiều đột phá lớn đến từ khả năng chia sẻ, sửa đổi, tương tác và xây dựng trên nền tảng chung. Khi mọi thứ bị khóa sau tường phần mềm, xã hội mất đi năng lực thử nghiệm từng làm công nghệ phát triển.

DMCA và tội “mày mò”

Vấn đề pháp lý nằm ở Điều 1201 của DMCA. Điều khoản này cấm vượt qua các biện pháp công nghệ kiểm soát quyền truy cập vào tác phẩm có bản quyền. Vi phạm có thể bị phạt tới 5 năm tù và 500.000 USD. Ngay cả khi không cố ý vi phạm, người dùng vẫn có thể bị phạt. Điều này biến những hành vi từng rất bình thường thành bất hợp pháp: tải một game đã mua để ghi ra đĩa, sửa phần mềm trong xe của mình, mở khóa thiết bị tập luyện, truy cập dữ liệu 911 do phần mềm tư nhân lưu giữ, hoặc tự sửa máy nông nghiệp. Mục tiêu ban đầu là chống sao chép lậu, nhưng phạm vi thực tế rộng hơn nhiều; cấm cả quyền mày mò với tài sản của chính mình.

Về nguyên tắc, xã hội không cần hợp pháp hóa vi phạm bản quyền. Tuy nhiên, chống sao chép lậu khác với cấm người mua sửa, chuyển đổi định dạng hoặc tiếp tục sử dụng sản phẩm bản thân trả tiền. Máy quay video, máy tính hay ổ đĩa đều có thể dùng để vi phạm bản quyền, nhưng xã hội không vì thế mà cấm các công cụ đó.

Độc quyền làm luật mạnh hơn

Ngay cả khi sửa Điều 1201, người tiêu dùng vẫn gặp bức tường khác: quyền lực nền tảng. Sony có thể buộc người chơi ký hợp đồng trọng tài ràng buộc, cấm họ làm điều nền tảng không muốn. Nếu vi phạm, công ty không cần kiện ra tòa; chỉ cần khóa tài khoản, chặn cửa hàng, cắt quyền truy cập máy chủ hoặc loại người dùng khỏi hệ sinh thái. Đây là nơi bản quyền gặp độc quyền. Khi chỉ có vài nền tảng kiểm soát phân phối, người tiêu dùng khó thực thi quyền của mình. Người chơi bị khóa khỏi PlayStation Store không chỉ mất dịch vụ; họ có thể mất cả thư viện game, cộng đồng, tiến trình chơi và thiết bị đã mua.

Vậy nên, cuộc nổi dậy của game thủ không chỉ là phản ứng với Sony mà còn là biểu hiện của sự mệt mỏi rộng hơn trước việc tài sản, quyền sửa chữa và quyền sử dụng bị rút dần khỏi tay người mua.

Chính trị của quyền sở hữu số

Năm 2022, khi Chủ tịch FTC Lina Khan kiện chặn thương vụ Microsoft - Activision, nhiều game thủ không ủng hộ bà. Họ nghĩ Microsoft có thể điều hành Activision tốt hơn và cạnh tranh với Sony hiệu quả hơn. Tuy nhiên, sau khi Microsoft thắng kiện, sa thải nhân viên, tăng giá và mở rộng độc quyền, nhiều người nhìn lại và hiểu điều FTC muốn ngăn. Giờ đây, với quyết định của Sony và sự bất mãn với Valve, cộng đồng game thủ thấy vấn đề không nằm ở công ty riêng lẻ. Đây là sự kết hợp giữa tập trung thị trường, luật bản quyền quá mạnh và mô hình nền tảng khép kín. Phần tài sản chung của họ đang bị rào lại.

Có hai hướng chính sách. Một là bãi bỏ hoặc thu hẹp Điều 1201 của DMCA, để người mua được sửa, chuyển đổi và sử dụng sản phẩm hợp pháp của mình. Hai là đặt quy định riêng: nếu công ty game không bán bản vật lý cùng giá với bản số, người tiêu dùng được phép vượt qua biện pháp kỹ thuật để tạo bản lưu trữ hoặc sử dụng hợp pháp. Có thể bổ sung quyền lập máy chủ riêng khi công ty ngừng hỗ trợ game. Ngành game từng được xem là văn hóa tiêu dùng thuần túy. Tuy nhiên, phản ứng với Sony cho thấy game thủ đang học ngôn ngữ của quyền sở hữu, chống độc quyền và quyền sửa chữa. Trong nền kinh tế số, câu hỏi không còn là mua đĩa hay tải game. Câu hỏi là sau khi trả tiền, người tiêu dùng còn quyền gì.

shared via thebignewsletter,

Wednesday, July 8, 2026

Năm 1973 và câu chuyện bị hiểu sai về cú sốc dầu mỏ


Cú tăng giá dầu gấp bốn lần cuối năm 1973 thường được nhớ đến như “cú sốc dầu mỏ” do lệnh cấm vận của các nước Ả rập sau chiến tranh Yom Kippur. Tuy nhiên, cách kể này chỉ đúng một phần. Đằng sau biến động làm rung chuyển chủ nghĩa tư bản hậu chiến là câu chuyện sâu sắc hơn: các nước xuất khẩu dầu, Ả rập và không Ả rập đã dùng OPEC để giành lại quyền định giá tài nguyên, bảo vệ dự án phát triển quốc gia và thách thức trật tự kinh tế do phương Tây thiết lập.

Khi “vấn đề năng lượng” ra đời

Năm 1973 thường được xem là điểm kết thúc “thời hoàng kim” của chủ nghĩa tư bản thế giới sau chiến tranh. Giá dầu tăng vọt, lạm phát lan rộng, tăng trưởng chậm lại, còn các nước công nghiệp lần đầu đối mặt trực diện với câu hỏi mà trước đó ít khi nằm ở trung tâm chính sách: năng lượng đến từ đâu, ai kiểm soát và nền kinh tế phụ thuộc đến mức nào? Sau cú sốc này, “vấn đề năng lượng” trở thành lĩnh vực chính sách riêng. Năm 1974, phần lớn các nước công nghiệp gia nhập Cơ quan Năng lượng Quốc tế, IEA, đặt tại Paris, để phối hợp phản ứng trước sự lệ thuộc quá mức vào dầu. Năm 1977, Mỹ lập Bộ Năng lượng. Năm 1981, Liên Hợp Quốc tổ chức hội nghị toàn cầu về các nguồn năng lượng mới và tái tạo ở Nairobi.

Từ đây, “hiệu quả năng lượng” trở thành khẩu hiệu chính sách. Tiêu chuẩn động cơ ô tô, cách nhiệt tòa nhà, điện hạt nhân, khí đốt, than đá, gió và mặt trời đều được đưa vào cuộc tranh luận. Tuy nhiên, nguồn gốc của biến cố năm 1973 thường bị giản lược thành câu chuyện quen thuộc: OPEC hoặc các nước Ả rập cấm vận dầu để trừng phạt phương Tây vì ủng hộ Israel. Cách hiểu này che khuất phần quan trọng hơn.

Cấm vận có thật, nhưng không phải tất cả

Cuối năm 1973, các nước Ả rập xuất khẩu dầu dùng “vũ khí dầu mỏ”. Sau khi chiến tranh Yom Kippur nổ ra ngày 6/10, Mỹ mở cầu hàng không lớn để tiếp tế cho Israel. Ngày 17/10, Tổ chức các nước Ả rập xuất khẩu dầu mỏ, OAPEC, họp tại Kuwait và tuyên bố cắt sản lượng 5% trong tháng tiếp theo, rồi tiếp tục cắt mỗi tháng cho đến khi Israel rút khỏi các vùng chiếm đóng năm 1967 và quyền của người Palestine được khôi phục. Abu Dhabi tuyên bố cấm vận hoàn toàn dầu sang Mỹ. Ả rập Saudi và các nước OAPEC khác theo sau, nhắm vào Washington vì khoản viện trợ 2,2 tỷ USD cho Israel. Lệnh cấm vận sau đó mở rộng tới Hà Lan, Bồ Đào Nha, Rhodesia và Nam Phi, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của liên minh chống đế quốc trong Thế giới thứ ba.

Tuy nhiên về kinh tế, tác động của cấm vận hạn chế hơn nhiều so với ký ức phổ biến. Đến tháng 3/1974, cắt giảm sản lượng và cấm vận Mỹ, Hà Lan đều được dỡ bỏ. Một số tính toán cho thấy khối lượng dầu giao dịch toàn cầu chỉ giảm khoảng 5-13% trong năm tháng cắt giảm. Nhà kinh tế Morris Adelman thậm chí cho rằng tổng sản lượng mất đi trong ba tháng cuối năm 1973 còn thấp hơn mức tồn kho đã được tích lũy trước đó. Nói cách khác, lệnh cấm vận có tác động chính trị lớn, đặt Palestine vào trung tâm nghị sự quốc tế, nhưng không đủ để giải thích vì sao giá dầu tăng gấp bốn và duy trì ở mức cao nhiều năm sau đó.

Cuộc cách mạng giá của OPEC

Ngày 16/10/1973, một ngày trước cuộc họp OAPEC, đại diện Ả rập Saudi, Kuwait, Abu Dhabi, Qatar, Iraq và Iran họp tại Kuwait với tư cách tiểu ban OPEC. Họ đưa ra quyết định lịch sử: lần đầu tiên đơn phương nâng giá niêm yết dầu thô thêm 70%, từ 3 USD lên 5,11 USD/thùng. Đến tháng 12, tại Tehran, OPEC lại tăng giá tham chiếu lên 11,65 USD/thùng.

Điểm quan trọng là Iran không tham gia chiến tranh Ả rập-Israel, còn tăng sản lượng trong năm 1973 và từng là nhà cung cấp dầu cho Israel. Điều này cho thấy quyết định tăng giá của OPEC không phải hệ quả trực tiếp của chiến tranh Trung Đông. Các bộ trưởng dầu mỏ Ả rập Saudi và Algeria khi đó nhiều lần khẳng định giá dầu tăng không liên quan đến chiến tranh. Biên bản các cuộc họp OPEC cuối năm 1973 và đầu 1974 cũng hiếm khi nhắc tới xung đột Ả rập-Israel. Như nhà báo Anthony Sampson viết trong The Seven Sisters, tăng giá và cấm vận trở thành tổ hợp chết người đối với phương Tây, nhưng sự trùng hợp này phần nào là ngẫu nhiên. Động lực mạnh hơn nằm ở thị trường và trật tự tiền tệ toàn cầu.

Dầu, USD và trật tự hậu chiến

Đầu thập niên 1970, các nước công nghiệp đã bắt đầu nhận ra một cuộc khủng hoảng năng lượng đang hình thành. Nhu cầu dầu tăng mạnh ở Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu. Kể từ thập niên 1930, Texas khai thác hết công suất lần đầu. Người tiêu dùng Mỹ trải qua thiếu hụt xăng và khí đốt. Chính quyền Nixon nới dần kiểm soát nhập khẩu dầu, khiến Mỹ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung bên ngoài. Cùng lúc đó, hệ thống Bretton Woods tan rã. Đồng USD bị phá giá và không còn gắn với vàng. Với các nước xuất khẩu dầu, điều này có nghĩa họ đang bán tài nguyên cạn kiệt để nhận về đồng tiền mất sức mua. Tăng giá dầu vì thế không chỉ là đòi hỏi lợi nhuận, mà là cách bảo vệ giá trị tài nguyên trước một hệ thống tiền tệ đang lung lay.

Năm 1960, OPEC ra đời với mục tiêu: giành lại quyền kiểm soát giá và doanh thu từ các công ty dầu phương Tây. Venezuela, Ả rập Saudi, Iraq, Iran và Kuwait là các thành viên sáng lập. Ngay từ hội nghị bộ trưởng đầu tiên năm 1961, OPEC đã lập luận rằng không thể tiếp tục bán sản phẩm với giá thấp cho các nước giàu, trong khi người dân các nước sản xuất cần nguồn lực để thoát nghèo, xây giáo dục, ổn định và phát triển.

Từ nhượng địa thuộc địa đến quốc hữu hóa

Trong thập niên 1960, thị trường dầu vẫn nghiêng về người tiêu dùng và các tập đoàn dầu quốc tế. Tuy nhiên, OPEC dần giành thêm phần doanh thu mỗi thùng dầu bằng cách tăng thuế và buộc công ty dầu chấp nhận giá niêm yết cao hơn giá thị trường.

Sau thất bại của Ả rập trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967, làn sóng chống đế quốc và áp lực dư luận trong thế giới Ả rập tăng mạnh. Năm 1968, OPEC ra tuyên bố chính sách dầu mỏ, đòi quyền kiểm soát giá niêm yết, yêu cầu các tập đoàn phương Tây trả lại những khu vực chưa khai thác và cho nhà nước tham gia trực tiếp vào các nhượng địa dầu. Bước ngoặt lớn đến từ quốc hữu hóa. Năm 1971, Algeria kiểm soát 51% ngành dầu vốn vẫn nằm trong tay các công ty Pháp sau độc lập. Libya sau cách mạng 1969 cũng theo đuổi lập trường cứng rắn. Năm 1975, Venezuela quốc hữu hóa dầu. Những động thái này đặt OPEC vào dòng chảy rộng hơn của Thế giới thứ ba: giành quyền kiểm soát tài nguyên như một phần của phi thực dân hóa. Với các nhà lãnh đạo như Houari Boumedienne của Algeria, dầu mỏ không chỉ là hàng hóa mà là công cụ để đòi một Trật tự Kinh tế Quốc tế Mới.

Vì sao 11,65 USD/thùng?

Tháng 1/1974, bộ trưởng dầu mỏ Iran Jamshid Amouzegar tóm tắt bốn lý do phía sau mức giá mới 11,65 USD/thùng. Thứ nhất, các nước xuất khẩu tin rằng một ngày nào đó họ sẽ phải nhập năng lượng đắt đỏ từ nguồn khác, như dầu đá phiến hoặc than hóa lỏng. Thứ hai, họ muốn duy trì sức mua của dầu trước lạm phát và phá giá tiền tệ. Thứ ba, họ muốn bảo vệ “giá trị nội tại” của dầu, một tài nguyên quá quý để bị đốt lãng phí. Thứ tư, dầu không chỉ là năng lượng mà còn là nguyên liệu cho hóa dầu. Shah của Iran nói rõ: dầu là “sản phẩm cao quý” và có thể cạn trong 30 năm. Vì vậy, giá mới được thiết kế như mức tối thiểu tương ứng với chi phí các nguồn năng lượng thay thế trong tương lai. Lập luận này phản ánh tầm nhìn phát triển: dầu phải được định giá đủ cao để tài trợ công nghiệp hóa, phúc lợi và chuyển đổi kinh tế của chính các nước sản xuất, thay vì bị tiêu thụ rẻ trong nền kinh tế phương Tây.

Di sản 50 năm

Việc gắn toàn bộ cú tăng giá dầu năm 1973 với lệnh cấm vận Ả rập tạo ra câu chuyện tiện lợi cho phương Tây: giá dầu tăng là cú sốc ngoại sinh, hành động phá hoại từ bên ngoài. Tuy nhiên, cách kể làm mờ cuộc khủng hoảng sâu của kinh tế hậu chiến: đồng USD mất giá, Bretton Woods sụp đổ, nhu cầu năng lượng tăng, trật tự thuộc địa trong khai thác tài nguyên bị thách thức. Đồng thời che giấu ý nghĩa chính trị của “cuộc cách mạng dầu mỏ”: nỗ lực của các nước xuất khẩu nhằm tái cấu trúc quan hệ Bắc - Nam, giành lại phần lớn hơn từ tài nguyên của mình và biến độc lập chính trị thành chủ quyền kinh tế.

Dự án rốt cuộc không thành công trọn vẹn. Thập niên sau đó chứng kiến phản công tân tự do do Mỹ và Anh dẫn dắt, cùng khủng hoảng nợ chia rẽ Thế giới thứ ba. Song năm 1973 vẫn để lại bài học lớn: năng lượng không bao giờ chỉ là năng lượng. Nó là tiền tệ, phát triển, chủ quyền và quyền lực toàn cầu. Nửa thế kỷ sau, khi thế giới bước vào quá độ năng lượng mới, chi phí kinh tế, địa chính trị và môi trường của nhiên liệu hóa thạch cũng như của các lựa chọn thay thế còn cao hơn. Nhìn lại “cuộc cách mạng dầu mỏ” năm 1973 giúp hiểu rằng các quốc gia tài nguyên không chỉ phản ứng với thị trường. Họ luôn tìm cách định hình lại luật chơi của trật tự kinh tế thế giới.

shared via phenomenalworld,

Four Seasons đưa khách sạn xa xỉ ra biển

Khách sạn Four Seasons I dài hơn 207 m, có 95 suite, 11 điểm ăn uống, bốn hồ bơi, spa chăm sóc sức khỏe.

Trong một buổi sáng cuối tháng 5, du thuyền Four Seasons I chở gần 200 hành khách lướt qua vùng biển lấp lánh của vịnh Saronic, thả neo ngoài khơi đảo Spetses của Hy Lạp. Hòn đảo thơm mùi thông, không sân bay, không bến du thuyền đông đúc và không xe hơi, từ lâu đã là điểm đến kín tiếng của nhóm du khách sành sỏi.

Từ trên tàu, các biệt thự ven biển kiểu Venice phản chiếu xuống làn nước Aegean xanh ngọc. Khi hành khách lên xuồng nhỏ vào bờ, ánh nhìn không chỉ hướng về hòn đảo. Từ phía bến nước, nhiều người cũng nhìn lại con tàu bóng bẩy mang logo Four Seasons, trông không khác mấy siêu du thuyền của người nổi tiếng.

Đây chính là thứ Four Seasons muốn tạo ra, trải nghiệm du thuyền nhưng mang hệ sinh thái khách sạn siêu sang ra biển.

Khi khách sạn hạng sang bước vào ngành du thuyền

Sau Ritz-Carlton, thương hiệu ra mắt tàu đầu tiên năm 2022, nhiều tên tuổi khách sạn xa xỉ như Four Seasons, Orient Express và Aman đang tiến vào ngành du thuyền. Họ không nhắm tới thị trường cruise đại chúng, mà hướng đến nhóm khách siêu giàu muốn hành trình riêng tư, dịch vụ cá nhân hóa và cảm giác gần với siêu du thuyền hơn tàu du lịch truyền thống.

Ngành du thuyền toàn cầu đang đạt nhu cầu kỷ lục, với 37,2 triệu hành khách trong năm 2025. Nhưng các thương hiệu khách sạn xa xỉ ban đầu lại nhắm tới nhóm chưa từng đi cruise. Họ đặt cược rằng lòng trung thành với thương hiệu sẽ kéo khách quen của khách sạn xuống biển, dù giá suite khởi điểm từ 31.000 USD và có thể vượt 200.000 USD.

Tháng 3 ra mắt, Four Seasons I dài hơn 207 m, có 95 suite, 11 điểm ăn uống, bốn hồ bơi, spa chăm sóc sức khỏe và bến marina cho phép khách nhảy thẳng từ tàu xuống biển. Orient Express cũng vừa giới thiệu Corinthian, du thuyền buồm dài gần 220 m chở 110 khách, giá từ 19.500 USD cho ba đêm. Tháng 5 năm sau, Aman dự kiến đưa du thuyền đầu tiên Amangati vào vận hành.

Điểm bán hàng của các thương hiệu này rất rõ ràng. Khách hàng vẫn nhận được tiện nghi, dịch vụ và sự chăm chút quen thuộc của khách sạn hạng sang, nhưng mỗi sáng thức dậy ở một điểm đến mới.

Suite như biệt thự nổi

Trên Four Seasons I, sự xa xỉ thể hiện rõ nhất ở không gian phòng. Khác với cabin cruise thông thường, vốn thường được lắp sẵn trên đất liền rồi đưa vào tàu như các khối Lego, từng suite của Four Seasons được xây trực tiếp trên thân tàu để đạt mức hoàn thiện riêng.

Ngay cả hạng Seaview Suite thấp nhất cũng có quy mô vượt xa cabin du thuyền phổ biến. Cửa kính sát trần mở ra sân hiên rộng, nối liền giường king, khu ăn uống và sofa với mặt biển. Phòng có tủ quần áo walk-in, quầy bar nhỏ, tủ kính trưng bày sách và tác phẩm nghệ thuật. Phòng tắm lát đá quartzite xanh ngọc, có bồn tắm, vòi sen walk-in và sàn sưởi.

Ở nhóm cao hơn, một số suite có nhiều phòng ngủ, boong riêng và hồ ngâm. Đắt nhất là Funnel Suite rộng hơn 926 m², trải trên bốn tầng, có hồ ngâm, phòng gym ngoài trời và kính bao quanh từ sàn đến trần. Giá suite này từng vượt 300.000 USD.

Với nhiều khách, điều làm nên khác biệt không chỉ là diện tích mà là dịch vụ quản gia riêng. Một hành khách được nâng hạng lên Loft Suite ba phòng ngủ, hai tầng, cho biết quản gia lo gần như mọi việc, từ đặt lịch, đổi lịch, bữa tối, spa đến các chuyến tham quan. Tinh thần của dịch vụ là khách không phải nghĩ đến ngày mai.

Xa xỉ nhưng chưa hoàn toàn trọn gói

Dù vậy, Four Seasons I không tránh khỏi những điểm gây tranh luận. Ở mức giá hơn 4.000 USD/đêm, chỉ bữa sáng được bao gồm, và chỉ khi khách ăn tại nhà hàng. Trong khi đó, nhiều hãng cruise hạng sang như Silversea, Explora Journeys, Ritz-Carlton hay Orient Express đi theo mô hình gần như trọn gói, bao gồm tiền tip, rượu, Wi-Fi, ăn uống đặc biệt hoặc một số chuyến tham quan.

Với nhóm du khách cao cấp, mô hình trọn gói ngày càng hấp dẫn vì họ muốn trả trước hàng chục nghìn USD để tránh cảm giác bị tính thêm từng khoản nhỏ. Four Seasons chọn mô hình giống khách sạn hơn, nơi khách trả riêng cho từng trải nghiệm. Cách này đem lại sự linh hoạt, nhất là khi tàu dành nhiều thời gian ở cảng và khách có thể ăn tại điểm đến. Nhưng việc này cũng có thể khiến những người quen đi cruise so sánh về giá trị.

Một số hành khách không quá bận tâm, đặc biệt là khách quen của Four Seasons chưa từng đi du thuyền. Nhưng cũng có người cho rằng ở mức giá này, đồ ăn và thức uống cơ bản nên được bao gồm. Một bữa omakase tại nhà hàng Nhật trên tàu có thể tốn hơn 400 USD cho hai người, trong khi chất lượng không phải lúc nào cũng tương xứng kỳ vọng.

Trải nghiệm đắt đỏ nhưng khó sao chép

Các chuyến tham quan trên bờ cũng là phần các thương hiệu khách sạn cần học thêm khi bước vào ngành hàng hải. Vận hành du thuyền không chỉ là thiết kế tàu đẹp và phục vụ tốt. Nó còn bao gồm cảng, xuồng trung chuyển, hải quan, an toàn hàng hải và lịch trình nhiều điểm đến, những thứ khách sạn trên đất liền hiếm khi phải xử lý.

Trải nghiệm đáng nhớ nhất đến khi tàu thả neo tại vịnh vắng ngoài khơi đảo Folegandros. Hai boong bên hông mở ra, để lộ xe đạp nước, ván chèo, kayak và các thiết bị vui chơi trên biển. Từ mặt nước nhìn lại, Four Seasons I hiện lên đúng như lời hứa, không phải tàu cruise đông đúc, đây là khách sạn nổi mang dáng dấp siêu du thuyền.

Thời điểm nhiều điểm du lịch quá tải và các hãng cruise cạnh tranh từng vị trí cập cảng, khả năng neo ở những vùng biển riêng tư là lợi thế lớn. Four Seasons đang bán không chỉ một hành trình, mà là cảm giác được tránh khỏi đám đông, tiếp cận biển theo cách kín đáo và được chăm sóc đến từng chi tiết.

Đây là kiểu trải nghiệm “tiền không mua được.”

shared via nytimes,

Tuesday, June 2, 2026

Chanel và canh bạc gốm ceramic trong thế giới đồng hồ xa xỉ

Chanel J12 Superleggera. Ảnh: Joann Pai/The New York Times

Từ nhà mốt bước vào ngành đồng hồ muộn hơn các tên tuổi Thụy Sĩ, Chanel biến J12 thành biểu tượng riêng: chiếc đồng hồ gốm ceramic vừa thời trang, vừa có tham vọng kỹ thuật. Nay, khi J12 mở rộng màu sắc và kích cỡ, Chanel muốn chứng minh bản thân không chỉ làm đẹp cho cổ tay, mà còn làm chủ chất liệu khó bậc nhất ngành đồng hồ.

Khi nhà mốt bước vào lãnh địa đồng hồ

Trong thế giới đồng hồ xa xỉ, Chanel luôn có tiếng nói khác. Các thương hiệu Thụy Sĩ thuần đồng hồ thường bắt đầu từ bộ máy, di sản cơ khí và những biến chứng kỹ thuật. Chanel lại bước vào bằng trí tưởng tượng của thời trang: đồng hồ mặt dây chuyền hình thỏi son, mẫu đồng hồ nạm đá gợi chiếc gối ghim kim trong xưởng haute couture, hay mặt số khắc hình Coco Chanel. Cách tiếp cận phản ánh bản chất của nhà mốt Pháp. Với Chanel, đồng hồ không chỉ là công cụ đo thời gian mà là vật phẩm của phong cách, biểu tượng có thể mang ký ức của nước hoa No. 5, phom dáng couture, đường nét trang sức và tinh thần của Gabrielle Chanel.

Năm 1987, Chanel gia nhập ngành đồng hồ với mẫu Première, chiếc đồng hồ vỏ bát giác gợi nắp chai nước hoa No. 5. Năm tới, Première sẽ tròn 40 tuổi. Theo tiêu chuẩn của ngành đồng hồ, Chanel vẫn còn trẻ. Tuy nhiên, chưa đầy bốn thập niên, nhà mốt này đã tạo ra số lượng thiết kế bất ngờ và khác biệt đủ để buộc ngành đồng hồ phải nhìn nhận nghiêm túc. Năm 2016, sau hơn 20 năm làm việc tại LVMH, người dẫn dắt mảng đồng hồ và trang sức cao cấp hiện nay là Frédéric Grangié, gia nhập Chanel. Dưới thời ông, Chanel tiếp tục củng cố tham vọng: giữ bản sắc sáng tạo của nhà mốt, nhưng phải đạt chuẩn kỹ nghệ của những tên tuổi đồng hồ tốt nhất thế giới.

J12: chiếc đồng hồ phá bỏ khuôn mẫu

Nếu Première mở cửa cho Chanel bước vào đồng hồ, J12 mới là mẫu đồng hồ đưa hãng vào bản đồ biểu tượng. Ra mắt năm 2000, J12 là sáng tạo của Jacques Helleu, giám đốc nghệ thuật Chanel, người lấy cảm hứng từ xe đua và du thuyền America’s Cup. Thay vì thép, Helleu chọn ceramic – một quyết định táo bạo thời bấy giờ.

Ban đầu, J12 xuất hiện trong màu đen; ba năm sau có phiên bản ceramic trắng. Cả hai nhanh chóng trở thành dấu hiệu nhận diện của Chanel: bóng, mịn, bền, hiện đại, vừa thể thao vừa sang trọng. Ở ngành vốn tôn thờ thép, vàng và platinum, việc Chanel đặt cược vào ceramic là hành động phá khuôn. Grangié nhìn lại sự ra đời của J12 với cử chỉ gần như vị kỷ của nhà sáng tạo. Helleu muốn tạo ra chiếc đồng hồ trong mơ. Tuy nhiên, chính bản năng lại làm nên điều lâu dài. Ceramic không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ; nó trở thành nền tảng cho bản sắc đồng hồ Chanel. Với Chanel, J12 không chỉ là đồng hồ thời trang thành công mà là đồng hồ thực thụ của nhà làm đồng hồ, nơi thiết kế và kỹ thuật gặp nhau.

Làm chủ chất liệu khó

Hiện nay, nhiều thương hiệu có đồng hồ ceramic. Tuy nhiên, Chanel muốn khẳng định J12 khác ở mức độ kiểm soát vật liệu. Hãng tích hợp sản xuất ceramic vào manufacture tại La Chaux-de-Fonds, Thụy Sĩ; năm 1993, Chanel mua lại để xây dựng năng lực sản xuất theo chiều dọc.

Theo Grangié, Chanel hiện kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất ceramic, từ hạt nguyên liệu đến thành phẩm cuối cùng. Ông cho rằng chỉ có rất ít nhóm tại Thụy Sĩ làm được điều tương tự. Quan trọng hơn, Chanel còn là nhà cung cấp đồng hồ ceramic cho các thương hiệu khác. Trong ngành đồng hồ, nơi các đối thủ cạnh tranh thường dựa vào chuyên môn của nhau, việc được các hãng khác tìm đến là sự công nhận đáng giá. Tích hợp theo chiều dọc cũng phản ánh triết lý quản trị của Chanel, doanh nghiệp gia đình luôn muốn kiểm soát chất lượng và tính toàn vẹn của sản phẩm. Khi đội ngũ sáng tạo hình dung thiết kế khác thường, nhà máy phải có năng lực biến ý tưởng thành hiện thực. Đây là lý do ý tưởng nhìn thấy từ chiếc gối ghim kim trên cổ tay thợ may haute couture có thể trở thành mẫu Mademoiselle Privé Pincushion đường kính 55mm. Không bản kế hoạch kinh doanh nào dễ đề xuất một chiếc đồng hồ như thế. Tuy nhiên với Chanel, sự phi lý có thể chính là khởi điểm của ham muốn sở hữu.

J12 Bleu và màu xanh mất 5 năm

Năm ngoái, Chanel giới thiệu J12 Bleu, sắc xanh mới cần 5 năm để phát triển. Ban đầu là phiên bản giới hạn, nay màu xanh này trở thành một phần thường trực của dòng J12, bên cạnh đen và trắng. Việc mất 5 năm chỉ để hoàn thiện một sắc xanh nghe có vẻ xa xỉ, nhưng trong ngành đồng hồ cao cấp, màu sắc không đơn giản là lớp phủ. Với ceramic, màu phải đạt đúng độ sâu, độ đồng nhất, độ bóng và khả năng hoàn thiện bề mặt. Chanel muốn tạo ra “màu xanh Chanel” theo đúng ý mình, và quá trình này giúp hãng tiến thêm một bước trong việc làm chủ chất liệu.

Năm 2026, J12 tiếp tục là trọng tâm của Chanel. Hãng mở rộng dòng sản phẩm với các mẫu 42mm, nhắm tới nhóm khách hàng nam vốn có sức hút với J12, trong đó có sự trở lại của J12 Superleggera. Tên gọi này gợi thế giới xe đua, thể thao và dáng vẻ tinh gọn. Ở chiều ngược lại, Chanel cũng đưa ra các phiên bản 28mm nữ tính hơn. Cùng một biểu tượng, nhưng được kéo giãn theo nhiều kích cỡ, màu sắc và nhóm khách hàng. Đây là cách Chanel biến J12 từ mẫu đồng hồ thành nền tảng.

Đồng hồ trong thời đại không ai cần thêm đồng hồ

Grangié từng nói, ở thời điểm này, không ai thật sự cần thêm một chiếc đồng hồ. Vì vậy, đồng hồ xa xỉ phải sống bằng sự khao khát. Với Chanel, sức hấp dẫn đến từ thiết kế chỉ Chanel mới có thể làm, cộng với chất lượng đủ ngang hàng những thương hiệu đồng hồ hàng đầu. Đây là thách thức chung của ngành đồng hồ xa xỉ. Khi điện thoại và smartwatch giải quyết chức năng xem giờ, đồng hồ cơ hoặc đồng hồ cao cấp phải trả lời câu hỏi khác: vì sao người ta muốn đeo nó?

Câu trả lời của Chanel không nằm ở việc mô phỏng truyền thống Thụy Sĩ. Nhà mốt này không cố trở thành thương hiệu đồng hồ cổ điển. Chanel đi theo con đường riêng: lấy ngôn ngữ thời trang, trang sức, couture, thể thao và vật liệu cao cấp để tạo ra những vật phẩm có tính nhận diện mạnh. Việc Chanel trở thành đối tác bấm giờ chính thức của cuộc đua thuyền Oxford – Cambridge cũng nằm trong chiến lược. Đây là thỏa thuận thể thao đầu tiên trong lịch sử nhà mốt, gắn Chanel với cuộc thi lâu đời, tinh hoa và đầy tính biểu tượng. J12 vốn sinh ra từ cảm hứng du thuyền và tốc độ; sự hiện diện tại Boat Race giúp câu chuyện có thêm lớp nghĩa.

Chanel không chỉ làm đồng hồ đẹp

Điều khiến Chanel đáng chú ý không phải vì hãng là nhà mốt làm đồng hồ; điều đáng chú ý là Chanel đang chứng minh nhà mốt có thể đóng vai trò nghiêm túc trong kỹ nghệ đồng hồ, thậm chí trở thành chuyên gia của một chất liệu. Ceramic từng là lựa chọn phá cách. Nay, với J12, nó trở thành một trong những biểu tượng bền vững nhất của Chanel trong đồng hồ. Việc bổ sung màu xanh, mở rộng kích cỡ và làm chủ chuỗi sản xuất cho thấy Chanel không xem J12 như thành công đã qua, mà như lãnh địa còn tiếp tục được khai phá.

Trong thế giới đồng hồ xa xỉ, di sản thường được tính bằng thế kỷ; Chanel chưa có lợi thế này. Tuy nhiên, hãng có thứ khác: khả năng biến ký ức thời trang thành ham muốn hiện đại. Trong J12, Chanel tìm thấy công thức hiếm hoi – chiếc đồng hồ đủ đẹp để thuộc về thời trang, đủ kỹ thuật để được ngành đồng hồ tôn trọng, và đủ riêng để không bị nhầm với bất kỳ ai khác.

shared via nytimes,

1873: Khi cuộc khủng hoảng bị lãng quên soi chiếu thời đại bất bình đẳng


Trong cuốn 1873, Liaquat Ahamed kể lại cuộc khủng hoảng tài chính từng được gọi là “Khủng hoảng kinh tế”. Đây không chỉ là cuốn sách về giá cả, bản vị vàng và các chủ ngân hàng, mà là lời nhắc sắc lạnh rằng tăng trưởng kinh tế có thể làm rạn nứt chính trị nếu quá nhiều người bị bỏ lại phía sau.

Cuốn sách về cú sốc bị lịch sử làm mờ

Lịch sử kinh tế thường có những năm tháng bị ánh hào quang của các khủng hoảng lớn hơn che khuất. Năm 1873 là một trong số đó. Trước khi cuộc Đại khủng hoảng thập niên 1930 trở thành vết thương trung tâm của chủ nghĩa tư bản hiện đại, thế giới từng dùng chính cái tên “Great Depression” để nói về thời kỳ sau cú sụp tài chính năm 1873.

Trong 1873, Liaquat Ahamed, sử gia kiêm nhà tài chính đưa người đọc trở lại thời điểm này: nơi thế giới toàn cầu hóa sơ khai, đầy tiền rẻ, hưng phấn đầu cơ, đường sắt, trái phiếu nước ngoài, những ông trùm ngân hàng và các chính phủ vay nợ quá mức. Tuy nhiên, điều làm cuốn sách đáng chú ý không chỉ là kỹ thuật tài chính; Ahamed quan tâm tới câu hỏi lớn hơn: cơn địa chấn thị trường có thể tạo ra những hậu quả chính trị kéo dài như thế nào? Vậy nên, cuốn sách không đơn thuần là biên niên sử của vụ sụp đổ mà là bản giải phẫu thời đại được phủ vàng bên ngoài nhưng mục ruỗng bên trong.

“Khủng hoảng kinh tế” kỳ lạ

Điểm hấp dẫn đầu tiên của 1873 nằm ở chỗ sau cú sốc ban đầu, nhiều chỉ số kinh tế phục hồi khá nhanh: thương mại tăng, công nghệ tiến bộ, tiền lương thực tế ở nhiều nơi cải thiện. Giá lương thực và nhiên liệu giảm giúp đời sống trung bình khá hơn.


Tuy nhiên, tại đây, Ahamed cho thấy sự nguy hiểm của việc nhìn kinh tế chỉ qua con số bình quân. Với nhiều nhóm người, đặc biệt là nông dân, thợ thủ công, người vay nợ và tầng lớp lao động bị gạt khỏi lợi ích của thị trường mới, thời kỳ này là trải nghiệm cay đắng. Giá cả giảm không chỉ giúp người tiêu dùng mua rẻ hơn mà còn khiến con nợ bị bóp nghẹt vì phải trả khoản vay cũ bằng đồng tiền ngày càng có giá trị hơn.

Ahamed mô tả nền kinh tế cuối thời Victoria như chiếc xe có chân đạp ga, chân đạp phanh. Công nghiệp hóa, thương mại và sáng tạo kéo thế giới tiến lên. Bản vị vàng, giảm phát và tín dụng co lại kéo những người yếu thế xuống. Chính sự giằng xé này khiến cuốn sách vượt ra ngoài phạm vi lịch sử tài chính; cho thấy tăng trưởng không đủ để bảo đảm ổn định xã hội.

Bản vị vàng và sai lầm của giới tinh hoa

Một trong những luận điểm mạnh nhất của Ahamed là quyết định loại bạc khỏi hệ thống tiền tệ và chuyển sang bản vị vàng thuần túy là sai lầm lớn, thậm chí không cần thiết. Khi bạc bị gạt khỏi vai trò tiền tệ, lượng tiền trong lưu thông giảm. Hệ quả là trong nhiều năm giá cả lao dốc không phanh.

Đối với chủ nợ, đây là tin tốt. Đối với con nợ, đây là thảm họa. Của cải được chuyển từ người vay sang người cho vay, từ nông dân sang ngân hàng, từ vùng ngoại vi sang trung tâm tài chính. Không phải lúc nào người dân cũng hiểu cơ chế tiền tệ phức tạp ấy. Nhưng họ cảm nhận rất rõ kết quả: mình làm việc nhiều hơn mà vẫn tụt lại. Ahamed đặc biệt giỏi ở chỗ ông không biến lịch sử thành bài giảng khô khan. Các quyết định về vàng, bạc, tín dụng và trái phiếu được đặt trong sân khấu rộng, nơi những nhân vật quyền lực vừa tham lam, vừa thiển cận, vừa tự tin quá mức vào khả năng kiểm soát thế giới.

Gia tộc Rothschild và bóng ma thuyết âm mưu

Trục quan trọng của cuốn sách là gia tộc ngân hàng Rothschild. Ahamed không dùng họ như nhân vật phản diện; trái lại, các thành viên Rothschild được khắc họa như những người thận trọng, tránh các vụ đặt cược ngu xuẩn và cố ổn định thị trường khi hỗn loạn lan rộng.

Tuy nhiên, chính việc họ vượt qua khủng hoảng tương đối an toàn lại nuôi dưỡng hệ quả độc hại: sự lan rộng của các thuyết âm mưu bài Do Thái. Khoảng năm 1880, tại Áo và Đức, nơi thuật ngữ “antisemitism” được phổ biến, nhiều người tin rằng “các chủ ngân hàng Do Thái” đứng sau sự khan hiếm tiền và nỗi đau giảm phát. Đây là điểm then chốt của cuốn sách. Ahamed cho thấy sự phẫn nộ kinh tế, khi không được giải thích đúng, có thể tìm đến những mục tiêu sai lầm. Người dân có lý do để giận hệ thống tài chính; nhưng cơn giận bị chuyển hướng thành định kiến, dân túy và thù hận sắc tộc.

Từ Vienna đến Washington

Ahamed mở rộng bức tranh ra nhiều không gian chính trị. Khủng hoảng kinh tế góp phần làm Đế chế Ottoman mất kiểm soát tài chính. Ai Cập, không trả được nợ cho các chủ ngân hàng London, rơi vào vòng kiểm soát của Đế quốc Anh và mất quyền kiểm soát kênh đào Suez.

Tại Mỹ, cuộc khủng hoảng làm rạn nứt Đảng Cộng hòa, làm suy yếu chính quyền Grant vốn ngập trong bê bối, và góp phần vào bầu không khí dẫn tới cuộc bầu cử đầy gian lận năm 1876. Thỏa hiệp hậu trường đưa Rutherford B. Hayes vào Nhà Trắng cũng mở đường cho việc chấm dứt Tái thiết ở miền Nam, tạo điều kiện cho trật tự Jim Crow trỗi dậy. Không phải mọi mắt xích trong lập luận đều được Ahamed nối chặt đến cùng. Có lúc, cuốn sách gợi mở nhiều hơn chứng minh; song chính tham vọng liên kết tài chính, đế quốc, chủng tộc và dân túy khiến 1873 trở thành tác phẩm đáng đọc.

Bài học cho Kỷ nguyên Mạ vàng mới

Ahamed không ép hiện tại vào quá khứ, nhưng bóng dáng hiện tại luôn lởn vởn trong sách. Thế giới hôm nay cũng có bất bình đẳng cao, giới tài phiệt công nghệ, tiền rẻ, đầu cơ vào hạ tầng mới và sự giận dữ của những người cảm thấy bản thân bị loại khỏi thịnh vượng chung. Câu hỏi được đặt ra là, liệu chủ nghĩa tư bản có thể được sửa chữa không, các lựa chọn tiền tệ có nuôi dưỡng chủ nghĩa da trắng thượng đẳng và bài Do Thái đến mức nào, hay các sai lầm của giới tài chính có soi sáng khủng hoảng hiện nay ra sao – đôi khi được đặt ra rồi để ngỏ.

Tuy nhiên, có lẽ chính sự bỏ ngỏ khiến 1873 để lại dư âm. Ahamed không cần kết luận thay người đọc; ông dựng lại thế giới nơi của cải tăng lên nhưng niềm tin sụp đổ, nơi kẻ đầu cơ được phong làm quý tộc đến khi khủng hoảng lột mặt nạ họ.

1873 là cuốn sách về quá khứ, nhưng không hề cũ với thông điệp: nền kinh tế có thể vận hành tốt trên giấy, thị trường có thể phục hồi, giá cả có thể ổn định, song xã hội vẫn âm thầm tích tụ phẫn uất. Khi quá nhiều người tin rằng luật chơi được viết cho chủ nợ, nhà tài phiệt và giới trong cuộc, chính trị sẽ không đứng yên. Đây là lý do cuộc khủng hoảng bị lãng quên năm 1873 vẫn đáng được đọc lại hôm nay.

shared via nytimes, 

Ba mặt trận quyền lực của Trung Quốc toàn cầu

Khi Mỹ thu mình khỏi nhiều định chế đa phương, gây chiến kinh tế với đồng minh và sa lầy trong các cuộc đối đầu quân sự, câu hỏi về vai trò ...