Khi Mỹ thu mình khỏi nhiều định chế đa phương, gây chiến kinh tế với đồng minh và sa lầy trong các cuộc đối đầu quân sự, câu hỏi về vai trò của Trung Quốc trong trật tự thế giới trở nên cấp bách hơn. Bắc Kinh không chỉ vươn lên bằng nhà máy, xuất khẩu hay đầu tư hạ tầng. Quyền lực Trung Quốc mở rộng trên ba mặt trận cùng lúc: kinh tế chính trị, chuẩn mực quản trị toàn cầu và sản xuất tri thức. Câu hỏi lớn là liệu sự trỗi dậy mở ra con đường phát triển công bằng hơn cho Nam bán cầu, hay chỉ tạo ra dạng phụ thuộc mới dưới màu xanh của chuyển đổi năng lượng.
Cường quốc sản xuất bước ra thế giới
Trung Quốc củng cố vị trí siêu cường sản xuất thế giới. Nền kinh tế nước này tiếp tục tăng trưởng, tiến gần ngưỡng được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm thu nhập cao. GDP Trung Quốc chiếm khoảng 20% tổng GDP toàn cầu; năm ngoái, nước này tạo ra gần 30% giá trị gia tăng sản xuất của thế giới. Thặng dư thương mại đã lên tới 1.000 tỷ USD. Sức mạnh không chỉ nằm trong biên giới Trung Quốc. Năm 2013, sáng kiến Vành đai và Con đường, chính thức ra đời, chi lũy kế khoảng 1.400 tỷ USD tại 150 quốc gia, chủ yếu cho hạ tầng ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Từ năm 2022, Bắc Kinh bước vào giai đoạn mới: xuất khẩu công nghệ xanh, mở rộng năng lượng tái tạo và đưa sản xuất sạch thành công cụ phát triển đối ngoại. Năm 2024, đầu tư trong nước của Trung Quốc vào sản xuất xanh đạt 340 tỷ USD. Từ năm 2011, doanh nghiệp Trung Quốc cam kết hơn 227 tỷ USD cho 461 dự án sản xuất xanh tại 54 quốc gia, trong đó 88% diễn ra chỉ từ năm 2022. Một số nhà phân tích gọi đây là Vành đai và Con đường 2.0. Tuy nhiên, đánh giá “Trung Quốc toàn cầu” chỉ bằng lượng vốn đầu tư là chưa đủ. Bắc Kinh không chỉ đưa tiền, đường sắt, cảng biển, pin mặt trời hay xe điện ra thế giới. Trung Quốc còn đưa ra cách hiểu khác về phát triển, chủ quyền, nhân quyền, an ninh mạng và tri thức toàn cầu.
Chuyển đổi xanh và cơ hội của Nam bán cầu
Trung Quốc hiện là người chơi lớn nhất trong chuyển đổi năng lượng tái tạo. Nền kinh tế trong nước ngày càng được dẫn dắt bởi năng lượng sạch, khiến Trung Quốc trở thành “điện quốc” đầu tiên ở quy mô lớn. Đồng thời, nước này là nhà sản xuất và xuất khẩu công nghệ sạch chủ đạo sang châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh. Ở nhiều nước đang phát triển, giới tinh hoa chính sách hình dung lại chiến lược phát triển quanh lưới điện, pin mặt trời, pin lưu trữ và xe điện do Trung Quốc sản xuất. Cách nhìn phương Tây thường nhấn mạnh nhu cầu của chính Bắc Kinh: xuất khẩu công suất dư thừa, tìm thị trường mới, kiểm soát khoáng sản chiến lược. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Các chính phủ Nam bán cầu cũng có nhu cầu phát triển rất thật: điện rẻ hơn, công nghiệp hóa, di chuyển xanh và tiêu dùng hiện đại cho người dân. Với họ, chuyển đổi xanh không chỉ là chính sách khí hậu. Đây là cơ hội để thoát khỏi vai trò xuất khẩu nguyên liệu thô. Sau nhiều thập niên tư nhân hóa, suy giảm năng lực nhà nước và phụ thuộc vào khai thác sơ cấp, nhiều nước muốn đi xa hơn: không chỉ đào nickel, lithium hay đồng, mà còn chế biến, sản xuất linh kiện, rồi tiến tới hàng hóa xanh cuối cùng.
Indonesia là ví dụ nổi bật. Năm 2020, Tổng thống Joko Widodo cấm xuất khẩu nickel chưa qua chế biến, nhằm buộc đầu tư vào công đoạn sau. Brazil, dưới Đảng Lao động, đưa chính sách công nghiệp hóa lithium vào chương trình Nova Indústria Brasil năm 2024. Zambia, trong cơn sốt khoáng sản chiến lược toàn cầu, kỳ vọng chính phủ châu Phi sẽ có vị thế đàm phán mạnh hơn với nhà đầu tư. Song kết quả không tự động tích cực. Nếu các nước chỉ cạnh tranh bằng miễn thuế, đất rẻ và luật lao động dễ dãi, mà không buộc nhà đầu tư nội địa hóa sản xuất hay chuyển giao công nghệ, chuyển đổi xanh sẽ đem lại rất ít phát triển thực chất.
Trung Quốc: đối tác hay đối thủ?
Trung Quốc bước vào cuộc chơi với vị thế vừa hấp dẫn vừa mâu thuẫn. Nhiều quan chức ở Zambia, Brazil và Indonesia ngưỡng mộ thành tích của Bắc Kinh: tăng trưởng cao, giảm nghèo, năng lực quản trị, công nghiệp hóa và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc còn bán gói giải pháp trọn vẹn: từ ý tưởng, vốn, thiết kế đến xây dựng hạ tầng. Điều này hấp dẫn hơn mô hình viện trợ phương Tây, vốn thường mang quan hệ nhà tài trợ - người nhận viện trợ đầy tính giáo huấn. Tuy vậy, Trung Quốc cũng có mục tiêu riêng. Giống giai đoạn đầu của Vành đai và Con đường, nước này cần xuất khẩu năng lực dư thừa, bảo đảm nguồn khoáng sản chiến lược và mở rộng thị trường địa phương lẫn khu vực. Trong sản xuất năng lượng tái tạo, Bắc Kinh cũng muốn tích hợp dọc chuỗi giá trị, cả trong và ngoài lãnh thổ.
Vậy nên, Trung Quốc có thể là đối tác phát triển, nhưng cũng có thể trở thành đối thủ với các nước Nam bán cầu muốn xây chuỗi cung ứng xanh của riêng mình. Câu hỏi quyết định là liệu các nước tiếp nhận đầu tư có đủ năng lực áp đặt yêu cầu nội địa hóa, bảo vệ lao động và giành chuyển giao công nghệ hay không. Các bằng chứng ban đầu không đồng nhất. Một số nghiên cứu cho thấy đầu tư Trung Quốc, nhất là vốn nhà nước, có thể linh hoạt trước yêu cầu địa phương hơn nhiều dòng vốn phương Tây, vì “lợi nhuận” của Bắc Kinh không chỉ là tài chính, mà còn gồm quyền tiếp cận khoáng sản và ảnh hưởng chính trị. Song, trên thực tế, các liên minh lợi ích nội địa có thể làm lệch kết quả. Ở Indonesia, một số nhà nghiên cứu cho rằng nhóm tài phiệt hưởng lợi từ bùng nổ nickel do Trung Quốc dẫn dắt không mặn mà với việc siết chuẩn môi trường, xã hội và quản trị. Lao động là phép thử khác. Tại Morowali Industrial Park ở Indonesia, trung tâm của chiến lược chế biến nickel có vốn Trung Quốc lớn, nhiều báo cáo nêu tình trạng tai nạn chết người, suy giảm điều kiện lao động và bất ổn. Ở bang Bahia của Brazil, Bộ Lao động từng nêu điều kiện “tương tự nô lệ” tại công trường nhà máy xe điện BYD, trong khi công ty bị cáo buộc yêu cầu công nhân ký thư phản đối công đoàn ngành ô tô Brazil. Nếu công nhân không có thêm quyền mặc cả, lời nói về hợp tác Nam - Nam và phát triển đôi bên cùng có lợi sẽ rất mỏng.
Cuộc chiến chuẩn mực toàn cầu
Quyền lực Trung Quốc không chỉ nằm ở nhà máy và vốn. Bắc Kinh còn cố thay đổi luật chơi trong quản trị toàn cầu. Năm 1955, từ Hội nghị Á - Phi Bandung, Trung Quốc tự đặt mình trong truyền thống chống đế quốc và chống bá quyền. Nay, với sức nặng kinh tế mới, nước này có khả năng thực sự tác động đến các định chế quốc tế. Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tức IMF, Trung Quốc từ người chấp nhận luật chơi trở thành người làm rung chuyển luật chơi, rồi từng bước tạo luật mới. Bắc Kinh ủng hộ yêu cầu lâu dài của các nước đang phát triển về đại diện lớn hơn trong IMF, đa dạng hóa rổ tiền tệ của Quyền rút vốn đặc biệt và mở rộng phương thức trả nợ bằng hàng hóa, tài nguyên hoặc năng lượng.
Cạnh tranh từ các định chế tài chính Trung Quốc cũng buộc Ngân hàng Thế giới rút ngắn thời gian phê duyệt dự án và quay lại đầu tư hạ tầng nhiều hơn. Ngoài hệ thống Bretton Woods, Trung Quốc tham gia lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á và Ngân hàng Phát triển Mới của BRICS, nơi chuẩn môi trường, xã hội và quản trị mang tính quốc gia hơn là áp đặt từ bên ngoài. Trong quản trị mạng, Trung Quốc thúc đẩy khái niệm “chủ quyền mạng”: mỗi nhà nước có quyền quyết định con đường phát triển kỹ thuật số, quy định internet và chính sách dữ liệu không chịu can thiệp bên ngoài. Quan điểm hấp dẫn với nhiều chính phủ Nam bán cầu, vốn lo ngại “chủ nghĩa thực dân dữ liệu” như dạng khai thác mới. Thông qua Con đường Tơ lụa Kỹ thuật số, hiện liên quan đến khoảng 80 quốc gia, Bắc Kinh quảng bá chuẩn kỹ thuật và mô hình quản trị mạng. Tại Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc cũng đẩy cách hiểu khác về trật tự quốc tế: ưu tiên chủ quyền quốc gia, vai trò trung tâm của nhà nước, phát triển dựa trên tăng trưởng và nhân quyền mang tính tương đối, trong đó quyền phát triển kinh tế tập thể được đặt cạnh, thậm chí nhiều lúc phía trên, quyền dân sự và chính trị cá nhân.
Đây là thách thức trực tiếp với mô hình tự do phương Tây. Tuy nhiên, không thể xem nó đơn giản là tiến bộ. Sáng kiến An ninh Toàn cầu của Trung Quốc, mở rộng hợp tác cảnh sát và thực thi pháp luật với các nước Nam bán cầu. Với nhiều người, mô hình an ninh khó có thể được xem là cải thiện so với trật tự do Mỹ dẫn dắt.
Ai viết tri thức về phát triển?
Mặt trận thứ ba là tri thức. Trung Quốc xây hệ sinh thái nghiên cứu về thế giới, phát triển và Nam bán cầu. Từ năm 2011, dự án “viết về thế giới” của Bắc Kinh thúc đẩy lập khoảng 450 chương trình nghiên cứu khu vực tại gần 200 đại học, với 20.000 giảng viên nhằm phát triển và giảng dạy cách hiểu của Trung Quốc về thế giới. Các viện như Viện Hợp tác và Phát triển Nam - Nam tại Đại học Bắc Kinh hay Trung tâm Tri thức Quốc tế về Phát triển thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc đóng vai trò sản xuất “tri thức Trung Quốc” cho các vấn đề phát triển toàn cầu. Các chương trình đào tạo cũng mở rộng mạnh. Từ năm 1981 – 2009, Bắc Kinh tiếp nhận 120.000 học viên từ Nam bán cầu trong 4.000 chương trình. Giai đoạn 2013 – 2018, con số tăng lên hơn 200.000 học viên trong khoảng 7.000 chương trình. Nội dung rất rộng: nước sạch, cảng biển, định vị Bắc Đẩu, blockchain, an ninh thông tin, đô thị thông minh, quản lý dân số, chính sách dân tộc, truyền thông mới và vai trò think tank trong Vành đai và Con đường. Dù chủ đề nào, mô hình quản trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc thường được trình bày như nguồn gốc của hiệu quả.
Điều này thách thức trật tự tri thức lâu nay do phương Tây nắm giữ. Tuy nhiên, câu hỏi học thuật vẫn rất cơ bản: các khái niệm có chặt chẽ không, bằng chứng có đủ không, phương pháp có nghiêm túc không? Việc gọi Vành đai và Con đường là “toàn cầu hóa bao trùm” hay “ngoại giao hài hòa” không tự nó chứng minh rằng đây là trật tự hậu thuộc địa công bằng hơn.
Bá quyền hậu thuộc địa hay phụ thuộc mới?
Ba mặt trận của Trung Quốc: vật chất, chuẩn mực và tri thức – tương ứng với dự án bá quyền theo nghĩa rộng: không chỉ thống trị bằng lợi ích kinh tế, mà còn bằng lãnh đạo đạo đức và trí tuệ. Điểm đáng chú ý là dự án không diễn ra trên đầu Nam bán cầu, mà có sự tham gia tích cực của nhiều chính phủ, học giả và tầng lớp tinh hoa Nam bán cầu. Tuy nhiên, xuất thân từ Nam bán cầu không bảo đảm chống lại chủ nghĩa thực dân mới. Ấn Độ ở Kashmir, Nga ở Ukraine, Trung Quốc ở Tân Cương và Hồng Kông đều cho thấy ngôn ngữ chống đế quốc hoặc ký ức từng là nạn nhân không loại trừ khả năng tạo ra phụ thuộc và áp bức mới.
Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào dòng vốn, lời hứa của chính trị gia hay số dự án hạ tầng. Cần đo kết quả phát triển từ kinh nghiệm của những cộng đồng đang sống trong các thay đổi ấy: công nhân có thêm quyền không, môi trường có được bảo vệ không, công nghệ có được chuyển giao không, nhà nước có tăng năng lực đàm phán không, và người dân có hưởng lợi nhiều hơn nhóm tinh hoa hay không. Trung Quốc toàn cầu có thể giúp Nam bán cầu giành thêm không gian trong trật tự vốn thiên lệch về phương Tây. Tuy nhiên, cũng có thể nó chỉ thay trung tâm quyền lực bằng trung tâm khác. Câu trả lời sẽ không nằm trong khẩu hiệu “cùng thắng”, mà trong nhà máy nickel, hợp đồng lithium, tiêu chuẩn mạng, lớp đào tạo cán bộ và lá phiếu của người lao động.
shared via phenomenalworld,





