Search This Blog

Showing posts with label kinh tế. Show all posts
Showing posts with label kinh tế. Show all posts

Thursday, July 23, 2026

Ba mặt trận quyền lực của Trung Quốc toàn cầu


Khi Mỹ thu mình khỏi nhiều định chế đa phương, gây chiến kinh tế với đồng minh và sa lầy trong các cuộc đối đầu quân sự, câu hỏi về vai trò của Trung Quốc trong trật tự thế giới trở nên cấp bách hơn. Bắc Kinh không chỉ vươn lên bằng nhà máy, xuất khẩu hay đầu tư hạ tầng. Quyền lực Trung Quốc mở rộng trên ba mặt trận cùng lúc: kinh tế chính trị, chuẩn mực quản trị toàn cầu và sản xuất tri thức. Câu hỏi lớn là liệu sự trỗi dậy mở ra con đường phát triển công bằng hơn cho Nam bán cầu, hay chỉ tạo ra dạng phụ thuộc mới dưới màu xanh của chuyển đổi năng lượng.

Cường quốc sản xuất bước ra thế giới

Trung Quốc củng cố vị trí siêu cường sản xuất thế giới. Nền kinh tế nước này tiếp tục tăng trưởng, tiến gần ngưỡng được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm thu nhập cao. GDP Trung Quốc chiếm khoảng 20% tổng GDP toàn cầu; năm ngoái, nước này tạo ra gần 30% giá trị gia tăng sản xuất của thế giới. Thặng dư thương mại đã lên tới 1.000 tỷ USD. Sức mạnh không chỉ nằm trong biên giới Trung Quốc. Năm 2013, sáng kiến Vành đai và Con đường, chính thức ra đời, chi lũy kế khoảng 1.400 tỷ USD tại 150 quốc gia, chủ yếu cho hạ tầng ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Từ năm 2022, Bắc Kinh bước vào giai đoạn mới: xuất khẩu công nghệ xanh, mở rộng năng lượng tái tạo và đưa sản xuất sạch thành công cụ phát triển đối ngoại. Năm 2024, đầu tư trong nước của Trung Quốc vào sản xuất xanh đạt 340 tỷ USD. Từ năm 2011, doanh nghiệp Trung Quốc cam kết hơn 227 tỷ USD cho 461 dự án sản xuất xanh tại 54 quốc gia, trong đó 88% diễn ra chỉ từ năm 2022. Một số nhà phân tích gọi đây là Vành đai và Con đường 2.0. Tuy nhiên, đánh giá “Trung Quốc toàn cầu” chỉ bằng lượng vốn đầu tư là chưa đủ. Bắc Kinh không chỉ đưa tiền, đường sắt, cảng biển, pin mặt trời hay xe điện ra thế giới. Trung Quốc còn đưa ra cách hiểu khác về phát triển, chủ quyền, nhân quyền, an ninh mạng và tri thức toàn cầu.

Chuyển đổi xanh và cơ hội của Nam bán cầu

Trung Quốc hiện là người chơi lớn nhất trong chuyển đổi năng lượng tái tạo. Nền kinh tế trong nước ngày càng được dẫn dắt bởi năng lượng sạch, khiến Trung Quốc trở thành “điện quốc” đầu tiên ở quy mô lớn. Đồng thời, nước này là nhà sản xuất và xuất khẩu công nghệ sạch chủ đạo sang châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh. Ở nhiều nước đang phát triển, giới tinh hoa chính sách hình dung lại chiến lược phát triển quanh lưới điện, pin mặt trời, pin lưu trữ và xe điện do Trung Quốc sản xuất. Cách nhìn phương Tây thường nhấn mạnh nhu cầu của chính Bắc Kinh: xuất khẩu công suất dư thừa, tìm thị trường mới, kiểm soát khoáng sản chiến lược. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Các chính phủ Nam bán cầu cũng có nhu cầu phát triển rất thật: điện rẻ hơn, công nghiệp hóa, di chuyển xanh và tiêu dùng hiện đại cho người dân. Với họ, chuyển đổi xanh không chỉ là chính sách khí hậu. Đây là cơ hội để thoát khỏi vai trò xuất khẩu nguyên liệu thô. Sau nhiều thập niên tư nhân hóa, suy giảm năng lực nhà nước và phụ thuộc vào khai thác sơ cấp, nhiều nước muốn đi xa hơn: không chỉ đào nickel, lithium hay đồng, mà còn chế biến, sản xuất linh kiện, rồi tiến tới hàng hóa xanh cuối cùng.

Indonesia là ví dụ nổi bật. Năm 2020, Tổng thống Joko Widodo cấm xuất khẩu nickel chưa qua chế biến, nhằm buộc đầu tư vào công đoạn sau. Brazil, dưới Đảng Lao động, đưa chính sách công nghiệp hóa lithium vào chương trình Nova Indústria Brasil năm 2024. Zambia, trong cơn sốt khoáng sản chiến lược toàn cầu, kỳ vọng chính phủ châu Phi sẽ có vị thế đàm phán mạnh hơn với nhà đầu tư. Song kết quả không tự động tích cực. Nếu các nước chỉ cạnh tranh bằng miễn thuế, đất rẻ và luật lao động dễ dãi, mà không buộc nhà đầu tư nội địa hóa sản xuất hay chuyển giao công nghệ, chuyển đổi xanh sẽ đem lại rất ít phát triển thực chất.

Trung Quốc: đối tác hay đối thủ?

Trung Quốc bước vào cuộc chơi với vị thế vừa hấp dẫn vừa mâu thuẫn. Nhiều quan chức ở Zambia, Brazil và Indonesia ngưỡng mộ thành tích của Bắc Kinh: tăng trưởng cao, giảm nghèo, năng lực quản trị, công nghiệp hóa và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc còn bán gói giải pháp trọn vẹn: từ ý tưởng, vốn, thiết kế đến xây dựng hạ tầng. Điều này hấp dẫn hơn mô hình viện trợ phương Tây, vốn thường mang quan hệ nhà tài trợ - người nhận viện trợ đầy tính giáo huấn. Tuy vậy, Trung Quốc cũng có mục tiêu riêng. Giống giai đoạn đầu của Vành đai và Con đường, nước này cần xuất khẩu năng lực dư thừa, bảo đảm nguồn khoáng sản chiến lược và mở rộng thị trường địa phương lẫn khu vực. Trong sản xuất năng lượng tái tạo, Bắc Kinh cũng muốn tích hợp dọc chuỗi giá trị, cả trong và ngoài lãnh thổ.

Vậy nên, Trung Quốc có thể là đối tác phát triển, nhưng cũng có thể trở thành đối thủ với các nước Nam bán cầu muốn xây chuỗi cung ứng xanh của riêng mình. Câu hỏi quyết định là liệu các nước tiếp nhận đầu tư có đủ năng lực áp đặt yêu cầu nội địa hóa, bảo vệ lao động và giành chuyển giao công nghệ hay không. Các bằng chứng ban đầu không đồng nhất. Một số nghiên cứu cho thấy đầu tư Trung Quốc, nhất là vốn nhà nước, có thể linh hoạt trước yêu cầu địa phương hơn nhiều dòng vốn phương Tây, vì “lợi nhuận” của Bắc Kinh không chỉ là tài chính, mà còn gồm quyền tiếp cận khoáng sản và ảnh hưởng chính trị. Song, trên thực tế, các liên minh lợi ích nội địa có thể làm lệch kết quả. Ở Indonesia, một số nhà nghiên cứu cho rằng nhóm tài phiệt hưởng lợi từ bùng nổ nickel do Trung Quốc dẫn dắt không mặn mà với việc siết chuẩn môi trường, xã hội và quản trị. Lao động là phép thử khác. Tại Morowali Industrial Park ở Indonesia, trung tâm của chiến lược chế biến nickel có vốn Trung Quốc lớn, nhiều báo cáo nêu tình trạng tai nạn chết người, suy giảm điều kiện lao động và bất ổn. Ở bang Bahia của Brazil, Bộ Lao động từng nêu điều kiện “tương tự nô lệ” tại công trường nhà máy xe điện BYD, trong khi công ty bị cáo buộc yêu cầu công nhân ký thư phản đối công đoàn ngành ô tô Brazil. Nếu công nhân không có thêm quyền mặc cả, lời nói về hợp tác Nam - Nam và phát triển đôi bên cùng có lợi sẽ rất mỏng.

Cuộc chiến chuẩn mực toàn cầu

Quyền lực Trung Quốc không chỉ nằm ở nhà máy và vốn. Bắc Kinh còn cố thay đổi luật chơi trong quản trị toàn cầu. Năm 1955, từ Hội nghị Á - Phi Bandung, Trung Quốc tự đặt mình trong truyền thống chống đế quốc và chống bá quyền. Nay, với sức nặng kinh tế mới, nước này có khả năng thực sự tác động đến các định chế quốc tế. Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tức IMF, Trung Quốc từ người chấp nhận luật chơi trở thành người làm rung chuyển luật chơi, rồi từng bước tạo luật mới. Bắc Kinh ủng hộ yêu cầu lâu dài của các nước đang phát triển về đại diện lớn hơn trong IMF, đa dạng hóa rổ tiền tệ của Quyền rút vốn đặc biệt và mở rộng phương thức trả nợ bằng hàng hóa, tài nguyên hoặc năng lượng.

Cạnh tranh từ các định chế tài chính Trung Quốc cũng buộc Ngân hàng Thế giới rút ngắn thời gian phê duyệt dự án và quay lại đầu tư hạ tầng nhiều hơn. Ngoài hệ thống Bretton Woods, Trung Quốc tham gia lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á và Ngân hàng Phát triển Mới của BRICS, nơi chuẩn môi trường, xã hội và quản trị mang tính quốc gia hơn là áp đặt từ bên ngoài. Trong quản trị mạng, Trung Quốc thúc đẩy khái niệm “chủ quyền mạng”: mỗi nhà nước có quyền quyết định con đường phát triển kỹ thuật số, quy định internet và chính sách dữ liệu không chịu can thiệp bên ngoài. Quan điểm hấp dẫn với nhiều chính phủ Nam bán cầu, vốn lo ngại “chủ nghĩa thực dân dữ liệu” như dạng khai thác mới. Thông qua Con đường Tơ lụa Kỹ thuật số, hiện liên quan đến khoảng 80 quốc gia, Bắc Kinh quảng bá chuẩn kỹ thuật và mô hình quản trị mạng. Tại Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc cũng đẩy cách hiểu khác về trật tự quốc tế: ưu tiên chủ quyền quốc gia, vai trò trung tâm của nhà nước, phát triển dựa trên tăng trưởng và nhân quyền mang tính tương đối, trong đó quyền phát triển kinh tế tập thể được đặt cạnh, thậm chí nhiều lúc phía trên, quyền dân sự và chính trị cá nhân.

Đây là thách thức trực tiếp với mô hình tự do phương Tây. Tuy nhiên, không thể xem nó đơn giản là tiến bộ. Sáng kiến An ninh Toàn cầu của Trung Quốc, mở rộng hợp tác cảnh sát và thực thi pháp luật với các nước Nam bán cầu. Với nhiều người, mô hình an ninh khó có thể được xem là cải thiện so với trật tự do Mỹ dẫn dắt.

Ai viết tri thức về phát triển?

Mặt trận thứ ba là tri thức. Trung Quốc xây hệ sinh thái nghiên cứu về thế giới, phát triển và Nam bán cầu. Từ năm 2011, dự án “viết về thế giới” của Bắc Kinh thúc đẩy lập khoảng 450 chương trình nghiên cứu khu vực tại gần 200 đại học, với 20.000 giảng viên nhằm phát triển và giảng dạy cách hiểu của Trung Quốc về thế giới. Các viện như Viện Hợp tác và Phát triển Nam - Nam tại Đại học Bắc Kinh hay Trung tâm Tri thức Quốc tế về Phát triển thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc đóng vai trò sản xuất “tri thức Trung Quốc” cho các vấn đề phát triển toàn cầu. Các chương trình đào tạo cũng mở rộng mạnh. Từ năm 1981 – 2009, Bắc Kinh tiếp nhận 120.000 học viên từ Nam bán cầu trong 4.000 chương trình. Giai đoạn 2013 – 2018, con số tăng lên hơn 200.000 học viên trong khoảng 7.000 chương trình. Nội dung rất rộng: nước sạch, cảng biển, định vị Bắc Đẩu, blockchain, an ninh thông tin, đô thị thông minh, quản lý dân số, chính sách dân tộc, truyền thông mới và vai trò think tank trong Vành đai và Con đường. Dù chủ đề nào, mô hình quản trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc thường được trình bày như nguồn gốc của hiệu quả.

Điều này thách thức trật tự tri thức lâu nay do phương Tây nắm giữ. Tuy nhiên, câu hỏi học thuật vẫn rất cơ bản: các khái niệm có chặt chẽ không, bằng chứng có đủ không, phương pháp có nghiêm túc không? Việc gọi Vành đai và Con đường là “toàn cầu hóa bao trùm” hay “ngoại giao hài hòa” không tự nó chứng minh rằng đây là trật tự hậu thuộc địa công bằng hơn.

Bá quyền hậu thuộc địa hay phụ thuộc mới?

Ba mặt trận của Trung Quốc: vật chất, chuẩn mực và tri thức – tương ứng với dự án bá quyền theo nghĩa rộng: không chỉ thống trị bằng lợi ích kinh tế, mà còn bằng lãnh đạo đạo đức và trí tuệ. Điểm đáng chú ý là dự án không diễn ra trên đầu Nam bán cầu, mà có sự tham gia tích cực của nhiều chính phủ, học giả và tầng lớp tinh hoa Nam bán cầu. Tuy nhiên, xuất thân từ Nam bán cầu không bảo đảm chống lại chủ nghĩa thực dân mới. Ấn Độ ở Kashmir, Nga ở Ukraine, Trung Quốc ở Tân Cương và Hồng Kông đều cho thấy ngôn ngữ chống đế quốc hoặc ký ức từng là nạn nhân không loại trừ khả năng tạo ra phụ thuộc và áp bức mới.

Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào dòng vốn, lời hứa của chính trị gia hay số dự án hạ tầng. Cần đo kết quả phát triển từ kinh nghiệm của những cộng đồng đang sống trong các thay đổi ấy: công nhân có thêm quyền không, môi trường có được bảo vệ không, công nghệ có được chuyển giao không, nhà nước có tăng năng lực đàm phán không, và người dân có hưởng lợi nhiều hơn nhóm tinh hoa hay không. Trung Quốc toàn cầu có thể giúp Nam bán cầu giành thêm không gian trong trật tự vốn thiên lệch về phương Tây. Tuy nhiên, cũng có thể nó chỉ thay trung tâm quyền lực bằng trung tâm khác. Câu trả lời sẽ không nằm trong khẩu hiệu “cùng thắng”, mà trong nhà máy nickel, hợp đồng lithium, tiêu chuẩn mạng, lớp đào tạo cán bộ và lá phiếu của người lao động.

shared via phenomenalworld,

Wednesday, July 8, 2026

Năm 1973 và câu chuyện bị hiểu sai về cú sốc dầu mỏ


Cú tăng giá dầu gấp bốn lần cuối năm 1973 thường được nhớ đến như “cú sốc dầu mỏ” do lệnh cấm vận của các nước Ả rập sau chiến tranh Yom Kippur. Tuy nhiên, cách kể này chỉ đúng một phần. Đằng sau biến động làm rung chuyển chủ nghĩa tư bản hậu chiến là câu chuyện sâu sắc hơn: các nước xuất khẩu dầu, Ả rập và không Ả rập đã dùng OPEC để giành lại quyền định giá tài nguyên, bảo vệ dự án phát triển quốc gia và thách thức trật tự kinh tế do phương Tây thiết lập.

Khi “vấn đề năng lượng” ra đời

Năm 1973 thường được xem là điểm kết thúc “thời hoàng kim” của chủ nghĩa tư bản thế giới sau chiến tranh. Giá dầu tăng vọt, lạm phát lan rộng, tăng trưởng chậm lại, còn các nước công nghiệp lần đầu đối mặt trực diện với câu hỏi mà trước đó ít khi nằm ở trung tâm chính sách: năng lượng đến từ đâu, ai kiểm soát và nền kinh tế phụ thuộc đến mức nào? Sau cú sốc này, “vấn đề năng lượng” trở thành lĩnh vực chính sách riêng. Năm 1974, phần lớn các nước công nghiệp gia nhập Cơ quan Năng lượng Quốc tế, IEA, đặt tại Paris, để phối hợp phản ứng trước sự lệ thuộc quá mức vào dầu. Năm 1977, Mỹ lập Bộ Năng lượng. Năm 1981, Liên Hợp Quốc tổ chức hội nghị toàn cầu về các nguồn năng lượng mới và tái tạo ở Nairobi.

Từ đây, “hiệu quả năng lượng” trở thành khẩu hiệu chính sách. Tiêu chuẩn động cơ ô tô, cách nhiệt tòa nhà, điện hạt nhân, khí đốt, than đá, gió và mặt trời đều được đưa vào cuộc tranh luận. Tuy nhiên, nguồn gốc của biến cố năm 1973 thường bị giản lược thành câu chuyện quen thuộc: OPEC hoặc các nước Ả rập cấm vận dầu để trừng phạt phương Tây vì ủng hộ Israel. Cách hiểu này che khuất phần quan trọng hơn.

Cấm vận có thật, nhưng không phải tất cả

Cuối năm 1973, các nước Ả rập xuất khẩu dầu dùng “vũ khí dầu mỏ”. Sau khi chiến tranh Yom Kippur nổ ra ngày 6/10, Mỹ mở cầu hàng không lớn để tiếp tế cho Israel. Ngày 17/10, Tổ chức các nước Ả rập xuất khẩu dầu mỏ, OAPEC, họp tại Kuwait và tuyên bố cắt sản lượng 5% trong tháng tiếp theo, rồi tiếp tục cắt mỗi tháng cho đến khi Israel rút khỏi các vùng chiếm đóng năm 1967 và quyền của người Palestine được khôi phục. Abu Dhabi tuyên bố cấm vận hoàn toàn dầu sang Mỹ. Ả rập Saudi và các nước OAPEC khác theo sau, nhắm vào Washington vì khoản viện trợ 2,2 tỷ USD cho Israel. Lệnh cấm vận sau đó mở rộng tới Hà Lan, Bồ Đào Nha, Rhodesia và Nam Phi, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của liên minh chống đế quốc trong Thế giới thứ ba.

Tuy nhiên về kinh tế, tác động của cấm vận hạn chế hơn nhiều so với ký ức phổ biến. Đến tháng 3/1974, cắt giảm sản lượng và cấm vận Mỹ, Hà Lan đều được dỡ bỏ. Một số tính toán cho thấy khối lượng dầu giao dịch toàn cầu chỉ giảm khoảng 5-13% trong năm tháng cắt giảm. Nhà kinh tế Morris Adelman thậm chí cho rằng tổng sản lượng mất đi trong ba tháng cuối năm 1973 còn thấp hơn mức tồn kho đã được tích lũy trước đó. Nói cách khác, lệnh cấm vận có tác động chính trị lớn, đặt Palestine vào trung tâm nghị sự quốc tế, nhưng không đủ để giải thích vì sao giá dầu tăng gấp bốn và duy trì ở mức cao nhiều năm sau đó.

Cuộc cách mạng giá của OPEC

Ngày 16/10/1973, một ngày trước cuộc họp OAPEC, đại diện Ả rập Saudi, Kuwait, Abu Dhabi, Qatar, Iraq và Iran họp tại Kuwait với tư cách tiểu ban OPEC. Họ đưa ra quyết định lịch sử: lần đầu tiên đơn phương nâng giá niêm yết dầu thô thêm 70%, từ 3 USD lên 5,11 USD/thùng. Đến tháng 12, tại Tehran, OPEC lại tăng giá tham chiếu lên 11,65 USD/thùng.

Điểm quan trọng là Iran không tham gia chiến tranh Ả rập-Israel, còn tăng sản lượng trong năm 1973 và từng là nhà cung cấp dầu cho Israel. Điều này cho thấy quyết định tăng giá của OPEC không phải hệ quả trực tiếp của chiến tranh Trung Đông. Các bộ trưởng dầu mỏ Ả rập Saudi và Algeria khi đó nhiều lần khẳng định giá dầu tăng không liên quan đến chiến tranh. Biên bản các cuộc họp OPEC cuối năm 1973 và đầu 1974 cũng hiếm khi nhắc tới xung đột Ả rập-Israel. Như nhà báo Anthony Sampson viết trong The Seven Sisters, tăng giá và cấm vận trở thành tổ hợp chết người đối với phương Tây, nhưng sự trùng hợp này phần nào là ngẫu nhiên. Động lực mạnh hơn nằm ở thị trường và trật tự tiền tệ toàn cầu.

Dầu, USD và trật tự hậu chiến

Đầu thập niên 1970, các nước công nghiệp đã bắt đầu nhận ra một cuộc khủng hoảng năng lượng đang hình thành. Nhu cầu dầu tăng mạnh ở Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu. Kể từ thập niên 1930, Texas khai thác hết công suất lần đầu. Người tiêu dùng Mỹ trải qua thiếu hụt xăng và khí đốt. Chính quyền Nixon nới dần kiểm soát nhập khẩu dầu, khiến Mỹ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung bên ngoài. Cùng lúc đó, hệ thống Bretton Woods tan rã. Đồng USD bị phá giá và không còn gắn với vàng. Với các nước xuất khẩu dầu, điều này có nghĩa họ đang bán tài nguyên cạn kiệt để nhận về đồng tiền mất sức mua. Tăng giá dầu vì thế không chỉ là đòi hỏi lợi nhuận, mà là cách bảo vệ giá trị tài nguyên trước một hệ thống tiền tệ đang lung lay.

Năm 1960, OPEC ra đời với mục tiêu: giành lại quyền kiểm soát giá và doanh thu từ các công ty dầu phương Tây. Venezuela, Ả rập Saudi, Iraq, Iran và Kuwait là các thành viên sáng lập. Ngay từ hội nghị bộ trưởng đầu tiên năm 1961, OPEC đã lập luận rằng không thể tiếp tục bán sản phẩm với giá thấp cho các nước giàu, trong khi người dân các nước sản xuất cần nguồn lực để thoát nghèo, xây giáo dục, ổn định và phát triển.

Từ nhượng địa thuộc địa đến quốc hữu hóa

Trong thập niên 1960, thị trường dầu vẫn nghiêng về người tiêu dùng và các tập đoàn dầu quốc tế. Tuy nhiên, OPEC dần giành thêm phần doanh thu mỗi thùng dầu bằng cách tăng thuế và buộc công ty dầu chấp nhận giá niêm yết cao hơn giá thị trường.

Sau thất bại của Ả rập trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967, làn sóng chống đế quốc và áp lực dư luận trong thế giới Ả rập tăng mạnh. Năm 1968, OPEC ra tuyên bố chính sách dầu mỏ, đòi quyền kiểm soát giá niêm yết, yêu cầu các tập đoàn phương Tây trả lại những khu vực chưa khai thác và cho nhà nước tham gia trực tiếp vào các nhượng địa dầu. Bước ngoặt lớn đến từ quốc hữu hóa. Năm 1971, Algeria kiểm soát 51% ngành dầu vốn vẫn nằm trong tay các công ty Pháp sau độc lập. Libya sau cách mạng 1969 cũng theo đuổi lập trường cứng rắn. Năm 1975, Venezuela quốc hữu hóa dầu. Những động thái này đặt OPEC vào dòng chảy rộng hơn của Thế giới thứ ba: giành quyền kiểm soát tài nguyên như một phần của phi thực dân hóa. Với các nhà lãnh đạo như Houari Boumedienne của Algeria, dầu mỏ không chỉ là hàng hóa mà là công cụ để đòi một Trật tự Kinh tế Quốc tế Mới.

Vì sao 11,65 USD/thùng?

Tháng 1/1974, bộ trưởng dầu mỏ Iran Jamshid Amouzegar tóm tắt bốn lý do phía sau mức giá mới 11,65 USD/thùng. Thứ nhất, các nước xuất khẩu tin rằng một ngày nào đó họ sẽ phải nhập năng lượng đắt đỏ từ nguồn khác, như dầu đá phiến hoặc than hóa lỏng. Thứ hai, họ muốn duy trì sức mua của dầu trước lạm phát và phá giá tiền tệ. Thứ ba, họ muốn bảo vệ “giá trị nội tại” của dầu, một tài nguyên quá quý để bị đốt lãng phí. Thứ tư, dầu không chỉ là năng lượng mà còn là nguyên liệu cho hóa dầu. Shah của Iran nói rõ: dầu là “sản phẩm cao quý” và có thể cạn trong 30 năm. Vì vậy, giá mới được thiết kế như mức tối thiểu tương ứng với chi phí các nguồn năng lượng thay thế trong tương lai. Lập luận này phản ánh tầm nhìn phát triển: dầu phải được định giá đủ cao để tài trợ công nghiệp hóa, phúc lợi và chuyển đổi kinh tế của chính các nước sản xuất, thay vì bị tiêu thụ rẻ trong nền kinh tế phương Tây.

Di sản 50 năm

Việc gắn toàn bộ cú tăng giá dầu năm 1973 với lệnh cấm vận Ả rập tạo ra câu chuyện tiện lợi cho phương Tây: giá dầu tăng là cú sốc ngoại sinh, hành động phá hoại từ bên ngoài. Tuy nhiên, cách kể làm mờ cuộc khủng hoảng sâu của kinh tế hậu chiến: đồng USD mất giá, Bretton Woods sụp đổ, nhu cầu năng lượng tăng, trật tự thuộc địa trong khai thác tài nguyên bị thách thức. Đồng thời che giấu ý nghĩa chính trị của “cuộc cách mạng dầu mỏ”: nỗ lực của các nước xuất khẩu nhằm tái cấu trúc quan hệ Bắc - Nam, giành lại phần lớn hơn từ tài nguyên của mình và biến độc lập chính trị thành chủ quyền kinh tế.

Dự án rốt cuộc không thành công trọn vẹn. Thập niên sau đó chứng kiến phản công tân tự do do Mỹ và Anh dẫn dắt, cùng khủng hoảng nợ chia rẽ Thế giới thứ ba. Song năm 1973 vẫn để lại bài học lớn: năng lượng không bao giờ chỉ là năng lượng. Nó là tiền tệ, phát triển, chủ quyền và quyền lực toàn cầu. Nửa thế kỷ sau, khi thế giới bước vào quá độ năng lượng mới, chi phí kinh tế, địa chính trị và môi trường của nhiên liệu hóa thạch cũng như của các lựa chọn thay thế còn cao hơn. Nhìn lại “cuộc cách mạng dầu mỏ” năm 1973 giúp hiểu rằng các quốc gia tài nguyên không chỉ phản ứng với thị trường. Họ luôn tìm cách định hình lại luật chơi của trật tự kinh tế thế giới.

shared via phenomenalworld,

Shania Twain chinh phục Gen Z như thế nào?

Ảnh: Pari Dukovic Hơn 25 năm sau khi thống trị làn sóng phát thanh toàn cầu, Shania Twain vẫn xuất hiện trước những đám đông trẻ trung, cuồn...